Chi tiết tin tức
A- A A+ | Tăng tương phản Giảm tương phản

Dãy Trường Sơn: Từ "lá phổi xanh" đến “kho dự trữ carbon tự nhiên”

Dãy Trường Sơn: Từ "lá phổi xanh" đến “kho dự trữ carbon tự nhiên”

Không chỉ có giá trị sinh thái, dãy Trường Sơn còn được đánh giá là “kho dự trữ carbon tự nhiên” lớn của Việt Nam. Theo các nghiên cứu lâm nghiệp, rừng tự nhiên khu vực này có khả năng hấp thụ và lưu trữ carbon cao hơn đáng kể so với rừng trồng thông thường nhờ mật độ sinh khối lớn và hệ sinh thái đa tầng. Trong bối cảnh Việt Nam cam kết đạt phát thải ròng bằng “0” vào năm 2050, nguồn tài nguyên carbon rừng tại Trường Sơn trở thành tài sản chiến lược cần được lượng hóa và khai thác hiệu quả.

Những năm gần đây, tài chính xanh đã bắt đầu thâm nhập sâu hơn vào lĩnh vực lâm nghiệp. Theo Ngân hàng Nhà nước, đến quý I/2026, dư nợ tín dụng xanh toàn hệ thống đạt khoảng 730 nghìn tỷ đồng, tăng trên 20% so với cùng kỳ, trong đó nông nghiệp xanh và lâm nghiệp bền vững là nhóm lĩnh vực ưu tiên. Đây là điều kiện thuận lợi để các doanh nghiệp lâm nghiệp, hợp tác xã và chủ rừng tại khu vực Trường Sơn tiếp cận nguồn vốn chuyển đổi mô hình sản xuất.

Song song với tín dụng xanh, thị trường tín chỉ carbon đang mở ra dư địa mới cho kinh tế rừng. Sau thành công bán 10,3 triệu tín chỉ carbon rừng tại khu vực Bắc Trung Bộ, thu về hơn 51 triệu USD, Việt Nam đang từng bước hoàn thiện khung pháp lý cho thị trường carbon. Đến tháng 5/2026, Chính phủ đã ban hành các quy định mới về giao dịch tín chỉ carbon, tạo cơ sở pháp lý để các địa phương có rừng lớn như khu vực Trường Sơn tham gia thị trường carbon quốc tế. Đây được xem là cú hích tài chính mới cho kinh tế lâm nghiệp Việt Nam.

Ngoài tín chỉ carbon, chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng (PFES) cũng đang tạo nguồn thu ổn định cho các địa phương dọc dãy Trường Sơn. Theo Quỹ Bảo vệ và Phát triển rừng Việt Nam, đến hết năm 2025, tổng nguồn thu PFES lũy kế đạt trên 25.000 tỷ đồng, bình quân mỗi năm khoảng 3.000 tỷ đồng, góp phần quan trọng trong bảo vệ rừng và nâng cao thu nhập cho cộng đồng nhận khoán bảo vệ rừng. Đây là một trong những mô hình tài chính xanh thành công nhất trong lĩnh vực lâm nghiệp hiện nay.

Tuy nhiên, tiềm năng lớn của Trường Sơn vẫn chưa được khai thác tương xứng. Nhiều địa phương còn thiếu dữ liệu carbon rừng, năng lực xây dựng dự án xanh còn hạn chế, trong khi doanh nghiệp lâm nghiệp khó tiếp cận tín dụng dài hạn do thiếu tài sản bảo đảm. Bên cạnh đó, sinh kế của người dân sống dựa vào rừng vẫn phụ thuộc nhiều vào khai thác truyền thống, tạo áp lực không nhỏ lên tài nguyên rừng tự nhiên.

Về dài hạn, phát triển tài chính xanh gắn với kinh tế lâm nghiệp bền vững tại dãy Trường Sơn cần được nhìn nhận như một chiến lược phát triển vùng. Khi nguồn vốn xanh được kết nối hiệu quả với bảo vệ rừng, tín chỉ carbon, du lịch sinh thái và sinh kế cộng đồng, Trường Sơn không chỉ tiếp tục giữ vai trò “lá phổi xanh” của quốc gia mà còn có thể trở thành trung tâm kinh tế sinh thái mới của Việt Nam. Đây chính là hướng đi để biến lợi thế tài nguyên rừng thành động lực tăng trưởng xanh và phát triển bền vững trong giai đoạn mới.

Khánh Chi- Thanh Tâm
Thích