A- A A+ | Chia sẻ bài viết lên facebook Chia sẻ bài viết lên twitter Chia sẻ bài viết lên google+

Kinh tế Việt Nam đạt được những kết quả quan trọng, toàn diện, nhiều điểm sáng nổi bật

Kinh tế Việt Nam đạt được những kết quả quan trọng, toàn diện, nhiều điểm sáng nổi bật

Kinh tế Việt Nam đạt được những kết quả quan trọng, toàn diện, nhiều điểm sáng nổi bật

Bà Đỗ Thị Ngọc - Phó Cục trưởng Cục Thống kê: Nhiệm kỳ Đại hội XIII đã khép lại với nhiều thành tựu quan trọng, toàn diện và rất đáng tự hào với nhiều chỉ tiêu kinh tế - xã hội đạt và vượt mục tiêu đặt ra.

Phóng viên: Thưa bà, bà đánh giá như thế nào về những thành tích nổi bật của kinh tế Việt Nam trong nhiệm kỳ vừa qua?

Phó Cục trưởng Đỗ Thị Ngọc: Nhìn lại nhiệm kỳ 2020-2025, tình hình thế giới, khu vực và trong nước diễn biến hết sức phức tạp, khó lường, các yếu tố ảnh hưởng tới phát triển kinh tế, xã hội rất thách thức, chưa từng có tiền lệ, với tác động lớn và khá toàn diện như đại dịch Covid-19, xung đột quân sự giữa Nga và U-crai-na kéo dài…; nhiều khó khăn, thách thức mới xuất hiện, gay gắt, phức tạp hơn nhiều so với một số nhiệm kỳ gần đây. Dưới sự lãnh đạo của Đảng và sự vào cuộc quyết liệt, nỗ lực phấn đấu của cả hệ thống chính trị, sự ủng hộ của Nhân dân và cộng đồng doanh nghiệp, kinh tế nước ta đạt được những kết quả quan trọng, toàn diện, nhiều điểm sáng nổi bật.

Một là, đất nước ta đã kiểm soát thành công, hiệu quả đại dịch Covid-19, bảo đảm đời sống xã hội trở lại hoạt động bình thường, tạo nền tảng quan trọng để phục hồi, phát triển kinh tế - xã hội và được quốc tế đánh giá cao.

Hai là, tăng trưởng kinh tế được duy trì ở mức khá cao so với khu vực và thế giới, tốc độ tăng tổng sản phẩm trong nước (GDP) bình quân giai đoạn 2021-2025 khoảng 6,2%/năm; nếu không tính năm 2021 do tác động nặng nề của đại dịch Covid-19 dẫn đến tăng trưởng GDP chỉ đạt 2,55% thì tăng trưởng GDP bình quân giai đoạn 2022-2025 đạt 7,13%/năm, vượt mục tiêu đề ra cho giai đoạn 2021-2025 (6,5 - 7,0%), trong đó năm 2025 ước tăng 8,02%.

Ba là, quy mô nền kinh tế tiếp tục được mở rộng. Quy mô GDP từ 346,6 tỷ USD năm 2020, xếp thứ 37 trên thế giới, tăng lên trên 514 tỷ USD năm 2025, gấp 1,48 lần so với năm 2020, xếp thứ 32 thế giới (tăng 5 bậc, vượt qua các quốc gia: Đan Mạch, Ai Cập, Nigiêria, Philíppin và Bănglađét) và thứ 4 trong khu vực ASEAN; GDP bình quân đầu người gấp 1,4 lần, tăng từ 3.552 USD lên 5.026 USD. Thu nhập quốc dân (GNI) bình quân đầu người tăng từ 3.400 USD năm 2020 lên 4.750 USD năm 2025, bước vào nhóm các nước có thu nhập trung bình cao (năm 2025, ngưỡng thu nhập trung bình cao của Ngân hàng Thế giới khoảng 4.496 USD/người).

Bốn là, cơ cấu nền kinh tế được chuyển dịch theo hướng tích cực, gắn với đổi mới mô hình tăng trưởng, nâng cao năng suất, chất lượng, hiệu quả. Tỷ trọng khu vực công nghiệp và dịch vụ trong GDP tăng từ 78,6% năm 2020 lên 80,4% năm 2025; khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản giảm từ 12,7% xuống còn 11,6%; thuế sản phẩm trừ trợ cấp sản phẩm chiếm khoảng 8,0%.

Các ngành sản xuất và dịch vụ được cơ cấu lại theo hướng số hóa, dựa trên nền tảng khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo. Kinh tế số đóng vai trò ngày càng quan trọng trong thúc đẩy phát triển kinh tế nhanh, bền vững, đến năm 2025, tỷ trọng tăng thêm của kinh tế số trong GDP chiếm 14,02% GDP. Cơ cấu ngành công nghiệp dịch chuyển theo hướng tăng tỷ trọng ngành công nghiệp chế biến, chế tạo, giảm tỷ trọng ngành khai khoáng. Tỷ trọng công nghiệp chế biến, chế tạo trong GDP tăng từ 23,95% năm 2020 lên khoảng 24,53% năm 2025; ngành khai khoáng giảm từ 2,4% còn 2,1%. Nông nghiệp tiếp tục giữ vai trò trụ đỡ, bảo đảm nhu cầu lương thực, thực phẩm an toàn, an ninh lương thực quốc gia và xuất khẩu, đặc biệt trong giai đoạn xảy ra đại dịch Covid-19; xuất khẩu nông sản Việt Nam đứng thứ 15 thế giới, thứ 2 Đông Nam Á và hiện có mặt ở trên 200 quốc gia, vùng lãnh thổ.

Chất lượng tăng trưởng có chuyển biến tích cực, năng suất lao động bình quân mỗi năm trong giai đoạn 2021-2025 tăng 5,2%; đóng góp của các nhân tố tổng hợp (TFP) vào tăng trưởng kinh tế đạt khoảng 47%, cao hơn giai đoạn 2016-2020 (46,04%).

Năm là, kinh tế vĩ mô cơ bản ổn định, lạm phát được kiểm soát, các cân đối lớn của nền kinh tế được bảo đảm. Giá cả hàng hóa cơ bản ổn định, lạm phát hằng năm được kiểm soát ở mức phù hợp trong phạm vi mục tiêu đề ra, hỗ trợ cho tăng trưởng phát triển kinh tế - xã hội. Chỉ số giá tiêu dùng (CPI) bình quân năm 2021 tăng 1,84%; năm 2022 tăng 3,15%; năm 2023 tăng 3,25%; năm 2024 tăng 3,63%; ước năm 2025 tăng 3,31%; bình quân 5 năm 2021-2025 đạt 3,03%/năm. Quy mô xuất, nhập khẩu hàng hóa không ngừng tăng lên và đạt kỷ lục khoảng hơn 930 tỷ USD năm 2025, thuộc nhóm 20 quốc gia dẫn đầu thế giới.

Sáu là, thương mại trong nước tiếp tục được cải thiện, phục hồi nhanh chóng. Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ tiếp tục chỉ đạo quyết liệt nhiều giải pháp để phát triển bền vững thị trường trong nước và thúc đẩy tiêu dùng; đẩy mạnh cuộc vận động Người Việt Nam ưu tiên dùng hàng Việt Nam, triển khai hiệu quả Chương trình quốc gia về xúc tiến thương mại năm 2025. Các loại hình thương mại như thương mại điện tử, mua bán trên nền tảng số… được khai thác tốt, trở thành kênh phân phối quan trọng. Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng năm 2022 tăng 21,5% so với năm 2021; năm 2023 tăng 10,4%; năm 2024 tăng 9,0%; năm 2025 ước tăng 10,0%.

Bảy là, huy động các nguồn lực cho phát triển kinh tế - xã hội đạt kết quả tích cực. Tổng vốn đầu tư toàn xã hội giai đoạn 2021-2025 đạt khoảng 33% GDP, đạt mục tiêu đề ra (32-34%). Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ đã chỉ đạo quyết liệt bộ, ngành và địa phương thực hiện các nhiệm vụ, giải pháp để đẩy nhanh tiến độ giải ngân vốn đầu tư công. Đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) tiếp tục được duy trì, là điểm sáng. Tổng số vốn FDI đăng ký giai đoạn 2021-2025 đạt 185 tỷ USD, cao hơn giai đoạn 2016-2020 (170 tỷ USD).

Tám là, cơ cấu, chất lượng lao động có những kết quả tích cực, đóng góp quan trọng vào tăng năng suất lao động của nền kinh tế. Tỷ lệ lao động nông nghiệp giảm từ 28,3% năm 2021 xuống còn 25,7% năm 2025. Chất lượng nguồn nhân lực ngày càng được nâng cao; tỷ lệ lao động qua đào tạo có bằng, chứng chỉ tăng từ 24,1% năm 2020 lên 29,2% năm 2025. Công tác giải quyết việc làm cho người lao động được quan tâm, tỷ lệ thất nghiệp luôn ở mức thấp dưới 3% (ước tính năm 2025 tỷ lệ thất nghiệp trong độ tuổi lao động ở khu vực thành thị là 2,51%).

Phóng viên: Trong nhiệm kỳ Đại hội lần thứ XIII của Đảng, nhiều chỉ tiêu đã đạt và vượt mục tiêu đề ra. Điều này sẽ có ý nghĩa như thế nào trong việc tạo nền tảng để kinh tế Việt Nam bứt phá trong giai đoạn tới, thưa bà?

Phó Cục trưởng Đỗ Thị Ngọc: Trong nhiệm kỳ Đại hội XIII vừa qua, kết quả của nhiều chỉ tiêu ước đạt và vượt mục tiêu đặt ra tính đến năm cuối kỳ, như: GDP bình quân đầu người đạt 5.026 USD (mục tiêu khoảng 5.000 USD); đóng góp của TFP vào tăng trưởng bình quân giai đoạn 2021-2025 đạt khoảng 47% (mục tiêu khoảng 45%); tuổi thọ trung bình tính từ lúc sinh đạt 74,8 tuổi (mục tiêu 74 tuổi); tỷ trọng lao động nông nghiệp trong tổng lao động xã hội đạt 25,8% (mục tiêu khoảng 25%); tỷ lệ lao động qua đào tạo có bằng, chứng chỉ đạt 29,2% (mục tiêu 28-30%); tỷ lệ thất nghiệp khu vực thành thị đạt 2,51% (mục tiêu <4%); tỷ lệ hộ nghèo đa chiều bình quân hằng năm giảm khoảng 1 điểm % (mục tiêu từ 1-1,5 điểm %); chỉ số HDI đạt 0,766 (mục tiêu >7); số bác sĩ trên 1 vạn dân đạt 15 (mục tiêu 10 bác sĩ); tỷ lệ dân số tham gia bảo hiểm y tế đạt 95,2% (mục tiêu 95%); tỷ lệ xã đạt chuẩn nông thôn kiểu mẫu 12,2% (mục tiêu 10%); tỷ lệ che phủ rừng (42%), tỷ lệ vốn đầu tư thực hiện toàn xã hội so với GDP (33%), tỷ lệ nợ công so với GDP <60%, đạt mục tiêu đặt ra …

Việc nhiều chỉ tiêu kinh tế - xã hội trong nhiệm kỳ Đại hội XIII đạt và vượt mục tiêu đề ra mang ý nghĩa quan trọng, tạo dựng nền tảng vững chắc cho kinh tế Việt Nam bứt phá mạnh mẽ, chủ động và bền vững hơn trong giai đoạn tới, thể hiện trên một số khía cạnh chủ yếu sau:

Thứ nhất, các thành tựu đạt được khẳng định tính đúng đắn của đường lối, chủ trương phát triển và hiệu quả trong công tác lãnh đạo, chỉ đạo, điều hành của Đảng và Nhà nước. Trong bối cảnh nhiều biến động, thách thức trong và ngoài nước, việc duy trì tăng trưởng, ổn định kinh tế vĩ mô và bảo đảm an sinh xã hội cho thấy năng lực ứng phó, thích ứng và điều hành ngày càng được nâng cao.

Thứ hai, các kết quả đạt được đã góp phần củng cố ổn định kinh tế vĩ mô, nâng cao sức chống chịu của nền kinh tế trước các cú sốc bên ngoài. Việc kiểm soát lạm phát, bảo đảm các cân đối lớn và duy trì tăng trưởng hợp lý giúp tạo dư địa cho điều hành chính sách linh hoạt, chủ động hơn trong thời gian tới.

Thứ ba, việc hoàn thành và vượt nhiều chỉ tiêu quan trọng cho thấy chất lượng tăng trưởng từng bước được cải thiện, cơ cấu kinh tế tiếp tục chuyển dịch theo hướng tích cực, gắn với nâng cao năng suất lao động và hiệu quả sử dụng các nguồn lực. Đây là tiền đề quan trọng để chuyển từ tăng trưởng dựa nhiều vào vốn và lao động sang tăng trưởng dựa nhiều hơn vào đổi mới sáng tạo, khoa học công nghệ và chuyển đổi số.

Thứ tư, những kết quả này góp phần củng cố niềm tin của cộng đồng doanh nghiệp, nhà đầu tư trong và ngoài nước đối với triển vọng phát triển của nền kinh tế Việt Nam. Niềm tin được củng cố sẽ thúc đẩy đầu tư, mở rộng sản xuất kinh doanh, qua đó tạo thêm động lực cho tăng trưởng trong giai đoạn tới.

Thứ năm, việc đạt và vượt chỉ tiêu cũng tạo cơ sở thực tiễn quan trọng để Đảng và Nhà nước tiếp tục hoàn thiện thể chế, hoạch định các mục tiêu và giải pháp phát triển cho kỷ nguyên phát triển mới của đất nước, với yêu cầu về chất lượng, hiệu quả và tính bền vững ngày càng rõ nét. Trên nền tảng đó, kinh tế Việt Nam có điều kiện thuận lợi để bứt phá, hiện thực hóa các mục tiêu phát triển nhanh và bền vững trong những năm tới.

Phóng viên: Cả nước đang phấn khởi trong không khí Đại hội lần thứ XIV của Đảng, bà có những kỳ vọng và khuyến nghị chính sách như thế nào để kinh tế nước ta tiếp tục hướng tới những thành tựu lớn hơn trong kỷ nguyên mới, kỷ nguyên vươn mình của dân tộc?

Phó Cục trưởng Đỗ Thị Ngọc: Nhiệm kỳ Đại hội XIII đã khép lại với nhiều thành tựu quan trọng, toàn diện và rất đáng tự hào với nhiều chỉ tiêu kinh tế - xã hội đạt và vượt mục tiêu đặt ra. Những kết quả đó không chỉ khẳng định đường lối, chủ trương đúng đắn của Đảng, công tác lãnh đạo, chỉ đạo và điều hành của Nhà nước hiệu lực, hiệu quả, đồng thời còn thể hiện rõ bản lĩnh, ý chí và khát vọng vươn lên mạnh mẽ của cả dân tộc Việt Nam. Trên nền tảng những thành tựu đã đạt được, đất nước ta đang đứng trước thời cơ mới để bước vào giai đoạn phát triển tiếp theo với mục tiêu cao hơn, hướng tới phát triển nhanh, bền vững và thịnh vượng trong kỷ nguyên mới, kỷ nguyên vươn mình của dân tộc.

Trong Báo cáo của Ban chấp hành trung ương khóa XIII về các văn kiện trình Đại hội XIV của Đảng do Tổng Bí thư Tô Lâm trình bày tại phiên khai mạc Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng Cộng sản Việt Nam diễn ra sáng nay đã xác định rất rõ 12 định hướng lớn; 6 nhiệm vụ trọng tâm và 3 đột phá chiến lược để hiện thực hóa mục tiêu phát triển giai đoạn 2026-2030 và tầm nhìn đến năm 2045.

Trong 5 năm tới, thế giới đang trải qua những thay đổi theo hướng sẽ tạo ra nhiều thời cơ, thuận lợi và khó khăn, thách thức lớn đan xen; trong nước tiếp tục triển khai những quyết sách chiến lược đặt ra nhiều vấn đề mới, yêu cầu mới cao hơn, mang tính lịch sử đối với sự nghiệp xây dựng, phát triển đất nước. Cá nhân tôi có kỳ vọng lớn nhất là Đất nước tiếp tục giữ vững ổn định kinh tế vĩ mô, nâng cao chất lượng tăng trưởng và củng cố nền tảng cho phát triển nhanh, bền vững; Đại hội sẽ tiếp tục khơi dậy mạnh mẽ khát vọng phát triển, tinh thần tự cường và ý chí vươn lên của dân tộc; củng cố niềm tin của người dân và cộng đồng doanh nghiệp; đồng thời xác lập những định hướng, mục tiêu phát triển ở tầm cao hơn, rõ ràng hơn cho giai đoạn mới.

Từ những thành tựu đạt được trong giai đoạn 2020-2025, tôi đề xuất một số khuyến nghị để kinh tế nước ta tiếp tục đạt được những thành tựu lớn hơn trong kỷ nguyên mới, kỷ nguyên vươn mình của dân tộc như sau:

Trước hết, cần chuyển mạnh sang mô hình tăng trưởng dựa nhiều hơn vào năng suất, khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số.

Thứ hai, cần tập trung cơ cấu lại nền kinh tế gắn với đổi mới mô hình tăng trưởng. Trong đó, ưu tiên phát triển các ngành, lĩnh vực có giá trị gia tăng cao, có khả năng dẫn dắt và lan tỏa như công nghiệp chế biến, chế tạo công nghệ cao, kinh tế số, kinh tế xanh, kinh tế tuần hoàn; đồng thời nâng cao chất lượng nông nghiệp theo hướng hiện đại, bền vững và thích ứng với biến đổi khí hậu.

Thứ ba, huy động, phân bổ và sử dụng hiệu quả các nguồn lực cho phát triển. Nâng cao hiệu quả đầu tư công, tập trung cho các công trình hạ tầng chiến lược, liên vùng, có tính lan tỏa cao. Khuyến khích và tạo điều kiện thuận lợi cho khu vực kinh tế tư nhân phát triển lành mạnh, bền vững. Phát triển đồng bộ các loại thị trường, nhất là thị trường vốn, thị trường khoa học công nghệ và thị trường lao động.

Thứ tư, đổi mới mạnh mẽ hoạt động xúc tiến đầu tư; xây dựng danh mục và kế hoạch thu hút các dự án ưu tiên đầu tư giai đoạn 2026 - 2030, trong đó tập trung thu hút các nhà đầu tư, tập đoàn kinh tế chiến lược đến đầu tư tại các tỉnh; có giải pháp hỗ trợ kết nối, liên kết, hợp tác giữa doanh nghiệp của tỉnh với doanh nghiệp nước ngoài để thúc đẩy chuyển giao công nghệ, kỹ năng quản lý, đào tạo nhân lực và tham gia chuỗi cung ứng, chuỗi giá trị toàn cầu.

Thứ năm, đặc biệt coi trọng phát triển nguồn nhân lực, nhất là nguồn nhân lực chất lượng cao. Chính sách giáo dục, đào tạo cần gắn chặt hơn với nhu cầu của thị trường lao động và yêu cầu của nền kinh tế số, kinh tế tri thức; đồng thời có cơ chế thu hút, trọng dụng nhân tài, khuyến khích tinh thần đổi mới sáng tạo trong toàn xã hội.

Với nền tảng đã được tạo dựng và các chính sách đột phá, cùng ý chí tự chủ chiến lược, tự lực, tự cường, tự hào dân tộc, của khát vọng vươn lên của Đại hội Đảng trong nhiệm kỳ mới, tôi tin tưởng rằng kinh tế Việt Nam sẽ bứt phá mạnh mẽ, tiến nhanh và tiến vững chắc trong kỷ nguyên vươn mình của dân tộc.


Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá
Click để đánh giá bài viết

Trang tin điện tử tổng hợp về 

Tin tức Tài chính trong nước và quốc tế

Giấy phép hoạt động số 4171/GP-TTĐT do Sở Thông tin và Truyền thông Hà Nội cấp ngày 30/08/2019

Giấy phép sửa đổi số 3928/GP-TTĐT do Sở Thông tin và Truyền thông Hà Nội cấp ngày 02/12/2020

Giấy phép sửa đổi số 3305/GP-TTĐT do Sở Thông tin và Truyền thông Hà Nội cấp ngày 08/11/2022

Chịu trách nhiệm nội dung trang thông tin điện tử tổng hợp: 

Giám đốc - Nguyễn Thanh Hà

ĐT: 024 62541423

Công ty TNHH Carvill Việt Nam

Tầng 10, Tòa nhà Ladeco, số 266 phố Đội Cấn, Phường Ngọc Hà, Thành phố Hà Nội

Email: media-booking@carvill-vietnam.com

Website: http://carvill-vietnam.com

Báo giá quảng cáo