![]() |
| Chênh lệch giữa tăng trưởng tín dụng và huy động vốn lớn khiến hệ thống ngân hàng chịu sức ép thanh khoản. |
Theo báo cáo tình hình kinh tế - xã hội tháng 4/2026 của Bộ Tài chính, tính đến ngày 16/4/2026, tín dụng đối với nền kinh tế đạt 19.267 nghìn tỷ đồng, tăng 3,6% so với cuối năm 2025 và tăng 18,62% so với cùng kỳ năm trước. Đây là mức tăng tương đối cao trong bối cảnh nền kinh tế đang được thúc đẩy tăng trưởng mạnh hơn.
Tuy nhiên, ở chiều ngược lại, áp lực lãi suất vẫn chưa giảm đáng kể. Lãi suất tiền gửi bình quân giao dịch phát sinh mới hiện ở mức 6,01%/năm, trong khi lãi suất cho vay bình quân phát sinh mới khoảng 8,82%/năm. Đáng chú ý, lãi suất cho vay trung và dài hạn phổ biến vẫn quanh 9-11%/năm, cho thấy độ trễ khá rõ giữa việc giảm lãi suất huy động và chi phí vốn thực tế của doanh nghiệp.
Khu vực tín dụng chính sách tiếp tục đóng vai trò “bộ đệm” hỗ trợ tăng trưởng và an sinh. Đến ngày 30/4/2026, tổng nguồn vốn của Ngân hàng Chính sách xã hội đạt 468.134 tỷ đồng, tăng gần 10% so với năm 2025. Tổng doanh số cho vay đạt hơn 68.000 tỷ đồng, hỗ trợ hơn 951 nghìn lượt hộ nghèo và đối tượng chính sách vay vốn. Nguồn vốn này đã góp phần tạo việc làm cho hơn 372 nghìn lao động, hỗ trợ hàng nghìn căn nhà ở xã hội và hàng trăm nghìn công trình nước sạch, vệ sinh nông thôn. Đây được xem là kênh hỗ trợ vốn có ý nghĩa lớn trong bối cảnh mặt bằng lãi suất thương mại vẫn còn cao. |
Dù vậy, xu hướng hạ nhiệt lãi suất huy động đã bắt đầu xuất hiện. Theo báo cáo của Bộ Tài chính, tính đến ngày 20/4/2026, đã có khoảng 33 ngân hàng thương mại điều chỉnh giảm lãi suất tiền gửi niêm yết với mức giảm 0,1-0,5%/năm.
Tuy nhiên, mức giảm này mới chủ yếu diễn ra ở đầu vào, lãi suất cho vay ngắn hạn vẫn ở mức cao, làm tăng áp lực tài chính cho doanh nghiệp. Báo cáo cũng nhấn mạnh, chênh lệch giữa tăng trưởng tín dụng và huy động vốn lớn khiến hệ thống ngân hàng chịu sức ép thanh khoản.
Chuyên gia tài chính - ngân hàng TS. Nguyễn Trí Hiếu cho rằng, mặc dù lãi suất huy động tại một số ngân hàng có dấu hiệu giảm theo chỉ đạo, nhưng lãi suất cho vay chưa giảm tương xứng. Theo ông Hiếu, nguyên nhân nằm ở áp lực thanh khoản, rủi ro nợ xấu và biến động kinh tế toàn cầu. Giá dầu neo cao do căng thẳng Trung Đông, lạm phát gia tăng và việc Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed) tiếp tục duy trì lãi suất cao khiến dư địa giảm lãi suất trong nước bị thu hẹp đáng kể.
Áp lực này đang phản ánh khá rõ lên thị trường tiền tệ. Dù lãi suất liên ngân hàng trong tháng 4 có xu hướng giảm, mặt bằng vẫn ở mức cao do chênh lệch giữa tăng trưởng tín dụng và huy động vốn tiếp tục lớn. Trong bối cảnh đó, nếu giảm mạnh lãi suất huy động, hệ thống ngân hàng có thể đối mặt rủi ro dịch chuyển dòng tiền sang vàng, chứng khoán hoặc USD.
TS. Nguyễn Trí Hiếu cảnh báo, nếu ép lãi suất huy động giảm trong khi các kênh đầu tư khác hấp dẫn hơn, người dân có thể rút tiền khỏi hệ thống ngân hàng. Khi thanh khoản không ổn định, ngân hàng sẽ không có dư địa để giảm lãi suất cho vay thực chất.
Không chỉ chịu áp lực từ chi phí vốn, hệ thống ngân hàng còn đối mặt yêu cầu siết chuẩn an toàn. Thông tư 14/2025/TT-NHNN quy định tỷ lệ an toàn vốn đối với ngân hàng thương mại, chi nhánh ngân hàng nước ngoài đang tạo áp lực lớn lên hệ số an toàn vốn (CAR), đặc biệt với nhóm ngân hàng quy mô nhỏ. Trong khi đó, theo đánh giá của FiinRatings, biên lãi ròng (NIM) toàn ngành có thể tiếp tục dưới 3% trong năm 2026 do áp lực thanh khoản kéo dài từ cuối năm 2025.
Đáng chú ý, vấn đề nợ xấu cũng đang trở lại thành biến số quan trọng. FiinRatings cho rằng tỷ lệ nợ xấu năm 2025 được giữ ở mức khoảng 1,9% phần nào nhờ đẩy mạnh xóa nợ. Khi hoạt động này quay về trạng thái bình thường trong năm 2026, áp lực nợ xấu có thể tăng lên, trong khi tỷ lệ trích lập dự phòng đã giảm xuống mức thấp nhất kể từ năm 2021.
Trong bối cảnh đó, yêu cầu “giữ lãi suất cho vay thấp nhất có thể” đang đòi hỏi nhiều giải pháp đồng bộ hơn thay vì chỉ trông chờ vào việc ngân hàng tự giảm lãi vay.
Theo báo cáo của Bộ Tài chính, Ngân hàng Nhà nước đang tiếp tục điều hành chính sách tiền tệ linh hoạt, phối hợp chặt chẽ với chính sách tài khóa nhằm kiểm soát lạm phát quanh mức 4,5%, đồng thời hỗ trợ tăng trưởng. Một trong những giải pháp đáng chú ý là Kho bạc Nhà nước đã giảm lãi suất tiền gửi không kỳ hạn và dưới 1 tháng từ 0,8% xuống 0,5%/năm để giảm áp lực chi phí vốn trong hệ thống.
Vì thế, Ngân hàng Nhà nước được yêu cầu rà soát quy định để bảo đảm thanh khoản hệ thống, đồng thời kiểm soát tín dụng vào lĩnh vực rủi ro như bất động sản, ưu tiên vốn cho sản xuất, xuất khẩu và các động lực tăng trưởng.
Ở góc độ doanh nghiệp, GS.TS Mạc Quốc Anh, Phó Chủ tịch kiêm Tổng thư ký Hiệp hội Doanh nghiệp nhỏ và vừa TP. Hà Nội cho rằng, để kéo giảm lãi suất thực chất, cần thay đổi cách tiếp cận tín dụng. Theo đó, ngân hàng cần tăng cường cho vay dựa trên dòng tiền, dữ liệu thuế, hóa đơn điện tử và lịch sử giao dịch số thay vì phụ thuộc quá lớn vào tài sản thế chấp. Cùng với đó là cần nâng cao hiệu quả của các Quỹ bảo lãnh tín dụng và Quỹ hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa nhằm chia sẻ rủi ro với ngân hàng thương mại, qua đó tạo điều kiện giảm chi phí vay vốn cho doanh nghiệp.
Tuy vậy, triển vọng giảm mạnh lãi suất trong ngắn hạn vẫn không dễ dàng. Báo cáo của Công ty Chứng khoán KBSV cho rằng, ở kịch bản cơ sở, CPI bình quân năm 2026 có thể tăng 4,8%, cao hơn mục tiêu kiểm soát lạm phát 4,5% của Chính phủ nhưng vẫn trong vùng chấp nhận được. Tuy nhiên, ở kịch bản tiêu cực khi giá dầu lên 100 USD/thùng, lạm phát có thể lên tới 5,4%, gây áp lực lớn lên điều hành chính sách tiền tệ.
Trong bối cảnh đó, theo các chuyên gia, mục tiêu giữ lãi suất cho vay ở mức thấp nhất có thể sẽ phụ thuộc rất lớn vào khả năng phối hợp đồng bộ giữa chính sách tiền tệ, tài khóa và sức khỏe thực tế của nền kinh tế.


