![]() |
| Thị trường tín chỉ carbon đang mở ra cơ hội mới giúp người nông dân, người trồng rừng thoát nghèo bền vững. Ảnh minh hoạ: HD |
Từ bảo vệ môi trường đến tạo nguồn thu mới
Theo số liệu của Cục Biến đổi khí hậu (Bộ Nông nghiệp và Môi trường), Việt Nam hiện có hơn 300 dự án, chương trình đăng ký thực hiện theo các tiêu chuẩn tín chỉ carbon, trong đó khoảng 150 chương trình, dự án đã được cấp trên 40 triệu tín chỉ carbon.
Những con số này cho thấy, tín chỉ carbon không còn là khái niệm xa vời mà đang từng bước trở thành một loại tài sản có giá trị kinh tế. Đặc biệt, đối với khu vực nông nghiệp và lâm nghiệp - nơi tập trung đông đồng bào dân tộc thiểu số và người dân vùng khó khăn, đây được xem là cơ hội để biến những lợi thế về tài nguyên thiên nhiên thành nguồn lực phát triển mới.
Thực tế tại Hợp tác xã (HTX) Nguyễn Gia cho thấy, sau khi chuyển đổi phần lớn đàn gà sang hình thức chăn nuôi không nhốt lồng, áp dụng các quy trình xử lý chất thải hiệu quả, HTX đã được cấp chứng nhận và bắt đầu tham gia bán tín chỉ carbon. HTX đã mời đơn vị chuyên môn tiến hành đo đạc, thẩm định và xác định giá bán tín chỉ carbon ở mức hơn 2 USD/tín chỉ.
Tín chỉ carbon trong lĩnh vực chăn nuôi không chỉ được tạo ra từ việc giảm phát thải mà còn được cộng thêm giá trị từ yếu tố phúc lợi động vật - tiêu chí đang được nhiều doanh nghiệp và tổ chức quốc tế quan tâm.
Không chỉ trong nông nghiệp, lĩnh vực lâm nghiệp cũng đã ghi nhận những kết quả tích cực. Chương trình Thỏa thuận chi trả giảm phát thải vùng Bắc Trung Bộ (ERPA) đã bán thành công 10,3 triệu tín chỉ carbon cho Ngân hàng Thế giới với giá 5 USD/tín chỉ, mang về khoảng 1.200 tỷ đồng.
Kết quả này cho thấy rừng không chỉ mang lại giá trị môi trường mà còn có thể tạo ra doanh thu trực tiếp. Trong bối cảnh nhiều hộ dân vùng sâu, vùng xa còn gặp khó khăn về việc làm và thu nhập, nguồn thu từ tín chỉ carbon được kỳ vọng sẽ góp phần đa dạng hóa sinh kế, giúp người dân có thêm động lực bảo vệ rừng, phát triển sản xuất xanh và từng bước thoát nghèo bền vững.
Tạo mắt xích đưa người dân tham gia “mỏ vàng xanh”
Tuy nhiên, để tham gia thị trường carbon, một hộ nông dân riêng lẻ gần như rất khó thực hiện, bởi quá trình đo đạc, thẩm định, xác nhận lượng phát thải giảm được và cấp chứng nhận quốc tế đòi hỏi chi phí lớn cùng yêu cầu kỹ thuật phức tạp.
Trong bối cảnh đó, HTX được xem là mô hình phù hợp nhất để tập hợp nông dân, tổ chức sản xuất và giảm chi phí giao dịch. Thông qua HTX, các hộ dân có thể liên kết thành vùng nguyên liệu tập trung, áp dụng chung một quy trình sản xuất và đáp ứng các tiêu chuẩn cần thiết để đăng ký dự án carbon. Đây cũng là điều kiện để doanh nghiệp dễ dàng tham gia liên kết, hỗ trợ kỹ thuật, đầu tư ban đầu và bao tiêu sản phẩm.
Các chuyên gia cho rằng, HTX chính là “phần gốc” của chuỗi giá trị carbon. Khi HTX đảm bảo được quy trình sản xuất, tính minh bạch và khả năng giám sát thành viên, doanh nghiệp sẽ thuận lợi hơn trong việc tìm kiếm thị trường, kết nối đối tác và thương mại hóa tín chỉ carbon.
TS. Vũ Duy Hoàng, Học viện Nông nghiệp Việt Nam nhận định, tín chỉ carbon là một loại tài sản mới. Muốn khai thác hiệu quả loại tài sản này, điều quan trọng là phải minh bạch dữ liệu phát thải và duy trì quy trình sản xuất theo đúng tiêu chuẩn đã đăng ký. Khi HTX làm tốt vai trò tổ chức sản xuất, còn doanh nghiệp đảm nhận vai trò thị trường, lợi ích cuối cùng sẽ quay trở lại với các thành viên HTX, tức là người nông dân.
Ngoài ra, việc duy trì sự tuân thủ của các thành viên HTX cũng là thách thức không nhỏ. Chỉ cần một số hộ không thực hiện đúng quy trình đã đăng ký, kết quả đo đạc cuối cùng có thể bị ảnh hưởng, kéo theo số lượng tín chỉ được cấp thấp hơn dự kiến.
Ông Đặng Thái Hiện, Giám đốc HTX nông nghiệp Lộc Phát 1 (An Giang) cho biết, việc áp dụng quy trình canh tác giảm phát thải như tưới ngập khô xen trong sản xuất lúa đòi hỏi hệ thống thủy lợi đồng bộ và mặt ruộng bằng phẳng. Tuy nhiên, nhiều vùng sản xuất hiện chưa đáp ứng được các điều kiện này.
Điều đó cho thấy, để thị trường carbon thực sự trở thành động lực phát triển kinh tế nông thôn và góp phần giảm nghèo bền vững, cần có thêm các chính sách hỗ trợ về tín dụng, hạ tầng, đào tạo kỹ thuật và kết nối thị trường. Nếu tận dụng tốt cơ hội này, người dân không chỉ tạo thêm nguồn thu nhập từ sản xuất xanh mà còn có thể biến những cánh rừng, thửa ruộng và trang trại của mình thành những “mỏ vàng xanh”, góp phần nâng cao đời sống, tạo việc làm và từng bước thoát nghèo một cách bền vững.


