Công nghiệp văn hoá - Từ nguồn lực nội sinh đến trụ cột GDP trong kỷ nguyên số
Với mục tiêu đóng góp tới 9% GDP vào năm 2045, Nghị quyết 80-NQ/TW đã định vị lại văn hóa từ một lĩnh vực tiêu tốn ngân sách trở thành động lực kinh tế mũi nhọn, vận hành trên nền tảng công nghệ và tinh thần kiến tạo quốc gia.
Nghị quyết số 80-NQ/TW ngày 7/1/2026 của Bộ Chính trị về phát triển văn hoá Việt Nam:
Mục tiêu đến năm 2030, các ngành công nghiệp văn hóa đạt tốc độ tăng trưởng bình quân khoảng 10%/năm và đóng góp 7% GDP của đất nước. Ảnh: Bảo San
Trong tiến trình hàng nghìn năm, văn hóa luôn được coi là kết tinh những giá trị tốt đẹp của dân tộc. Tuy nhiên, thực tiễn lịch sử cũng cho thấy mỗi thời kỳ đất nước phát triển mạnh mẽ đều gắn liền với sự phát triển rực rỡ về văn hóa. Bước sang kỷ nguyên mới, khi thế giới đang xác lập trật tự mới với sự cạnh tranh gay gắt giữa các nền văn hóa, Việt Nam cần một cú hích mang tính chiến lược.
Nghị quyết 80-NQ/TW ngày 7/1/2026 của Bộ Chính trị đã cụ thể hóa khát vọng đó bằng những chỉ tiêu kinh tế vô cùng mạnh mẽ. Đến năm 2030, các ngành công nghiệp văn hóa phải đóng góp 7% GDP. Tầm nhìn đến năm 2045, con số này tăng lên 9% GDP, đưa văn hóa trở thành một trong những trụ cột chính của phát triển bền vững. Để hiện thực hóa điều này, lần đầu tiên Đảng xác định bố trí tối thiểu 2% tổng chi ngân sách Nhà nước hằng năm cho văn hóa và tăng dần theo thực tiễn. Đây là thông điệp đanh thép về việc đầu tư cho văn hóa chính là đầu tư cho tương lai dân tộc.
Tại lễ kỷ niệm 80 năm Ngày thành lập ngành Văn hóa, Tổng Bí thư Tô Lâm đã nhấn mạnh: “Đầu tư cho văn hóa là đầu tư cho tương lai, cho “mạch nguồn” sức mạnh dân tộc. Văn hóa càng phải đi trước một bước, soi đường, dẫn dắt, bồi đắp bản lĩnh, củng cố niềm tin, hình thành năng lực “mềm” quốc gia”.
Từ quản lý sang quản trị kiến tạo
Nghị quyết 80 chỉ rõ một trong những hạn chế hiện nay là nhận thức về vai trò của văn hóa chưa toàn diện, đầu tư còn thấp và dàn trải, chủ yếu dựa vào ngân sách Nhà nước. Để khơi thông nguồn lực, Bộ Chính trị yêu cầu đổi mới mạnh mẽ tư duy, chuyển từ phương thức quản lý hành chính sang quản trị văn hóa hiện đại.
Mô hình quản trị mới lấy hiệu quả và sự tham gia đa trung tâm (Nhà nước - thị trường - xã hội - cộng đồng sáng tạo) làm nguyên tắc cốt lõi. Nghị quyết khuyến khích các cơ chế đột phá như "Lãnh đạo công - Quản trị tư", "Đầu tư công - Quản lý tư" đối với các thiết chế văn hóa. Việc thí điểm các mô hình kinh doanh văn hóa mới gắn với nền tảng số sẽ tháo gỡ các điểm nghẽn về thể chế, tạo điều kiện cho khu vực tư nhân trở thành động lực quan trọng của ngành.
Bên cạnh đó, các chính sách ưu đãi vượt trội về đất đai, miễn giảm thuế cho doanh nghiệp khởi nghiệp sáng tạo trong lĩnh vực văn hóa, điện ảnh, giải trí được kỳ vọng sẽ tạo nên một làn sóng đầu tư mới. Việt Nam hướng tới xây dựng các tập đoàn công nghiệp văn hóa tầm cỡ và các "trung tâm sáng tạo vùng" gắn với các đô thị lớn.
Trong kỷ nguyên mới, không gian phát triển của văn hóa không còn giới hạn ở đời sống thực mà mở rộng mạnh mẽ sang không gian số. Nghị quyết 80 đặt mục tiêu hoàn thành số hóa 100% các di sản văn hóa đã được xếp hạng quốc gia vào năm 2026. Đây không chỉ là việc lưu trữ, mà là tạo ra tài nguyên văn hóa số để khai thác kinh tế.
Việc ứng dụng trí tuệ nhân tạo (AI), dữ liệu lớn (Big Data) và công nghệ Blockchain vào sản xuất, phân phối văn hóa sẽ giúp bảo vệ bản quyền và nâng cao giá trị sản phẩm. Các thiết chế "văn hóa số", "bảo tàng mở", "thư viện số" sẽ thu hẹp khoảng cách thụ hưởng văn hóa giữa các vùng miền, tầng lớp Nhân dân.
Tuy nhiên, đi cùng với cơ hội là những thách thức về an ninh văn hóa. Nghị quyết nhấn mạnh việc xây dựng "Thế trận văn hóa" gắn với an ninh quốc phòng, bảo vệ chủ quyền văn hóa số và kiên quyết xử lý các yếu tố ngoại lai phản cảm, phi văn hóa trên các nền tảng xuyên biên giới. Văn hóa lúc này đóng vai trò là "sức đề kháng" để giữ gìn bản sắc dân tộc trước làn sóng lệch chuẩn.
Bộ trưởng Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch Nguyễn Văn Hùng cho rằng, coi phát triển công nghiệp văn hóa và kinh tế sáng tạo là động lực tăng trưởng mới, đóng góp trực tiếp vào tăng trưởng GDP, tạo việc làm và nâng cao chất lượng, gia tăng sức mạnh mềm quốc gia. Phát triển hệ sinh thái này đòi hỏi phải có sự kết nối chặt chẽ, hiệu quả giữa Nhà nước, doanh nghiệp, cộng đồng sáng tạo, thị trường và công nghệ; đồng thời định vị và quảng bá thương hiệu văn hóa Việt Nam trên bản đồ sáng tạo toàn cầu thông qua các sản phẩm văn hóa chất lượng cao.

Nghị quyết 80 đặt mục tiêu hoàn thành số hóa 100% các di sản văn hóa đã được xếp hạng quốc gia vào năm 2026. Ảnh: Bảo San
Con người là trung tâm
Mọi nguồn lực kinh tế đều vô nghĩa nếu không dựa trên nền tảng con người. Nghị quyết 80 khẳng định con người là trung tâm, chủ thể, mục tiêu và động lực của sự phát triển. Việc phát triển toàn diện văn hóa phải dựa trên nền tảng hệ giá trị quốc gia, hệ giá trị gia đình và chuẩn mực con người Việt Nam.
Để có những tác phẩm nghệ thuật đỉnh cao, xứng tầm thời đại, Nghị quyết đưa ra cơ chế đãi ngộ xứng đáng đối với nghệ sĩ, nghệ nhân. Đặc biệt, mô hình đào tạo tích hợp "Phổ thông - Nghệ thuật - Công nghệ" lần đầu tiên được đề xuất để hình thành đội ngũ nhân lực chất lượng cao, giỏi cả chuyên môn nghệ thuật lẫn khả năng làm chủ công nghệ. Đây là chìa khóa để Việt Nam không chỉ là nơi gia công mà trở thành trung tâm sáng tạo nội dung của khu vực.
Theo Bộ trưởng Nguyễn Văn Hùng, văn hóa và con người là hai yếu tố có tác động gắn bó mật thiết với nhau. Văn hóa bắt đầu từ yếu tố của con người. Vì lẽ sinh tồn cũng như mục đích của cuộc sống, con người là chủ thể, là người được thụ hưởng thành quả văn hóa, là cội nguồn của sự sáng tạo. Văn hóa trong kỷ nguyên mới lấy hạnh phúc của nhân dân và sự trường tồn của dân tộc làm mục tiêu cao nhất.
“Chỉ có phát huy cao độ nguồn lực con người, nội lực trong toàn dân, huy động mọi cấp, mọi ngành và toàn xã hội nỗ lực tham gia thì sự nghiệp xây dựng, phát triển văn hóa mới có thể giành được thắng lợi”, ông nhấn mạnh.
Mục tiêu cuối cùng của phát triển công nghiệp văn hóa là gia tăng "Sức mạnh mềm" quốc gia. Việt Nam đặt tầm nhìn lọt vào Top 30 thế giới về Chỉ số Sức mạnh mềm vào năm 2045. Văn hóa nghệ thuật sẽ trở thành nội dung chính thức trong các chuyến thăm cấp cao, góp phần xây dựng thương hiệu quốc gia.
Chúng ta không chỉ xuất khẩu hàng hóa đơn thuần, mà xuất khẩu những sản phẩm mang giá trị văn hóa đặc sắc với định vị: "Bền, đẹp, xanh, nhân văn". Các ngành điện ảnh, âm nhạc, ẩm thực, thời trang sẽ là những "đại sứ" đưa hình ảnh con người Việt Nam tự chủ, tự cường và khát vọng cống hiến ra toàn cầu.
Bên cạnh đó, việc chọn ngày 24/11 hằng năm là "Ngày Văn hóa Việt Nam" - một ngày nghỉ lễ hưởng nguyên lương – là minh chứng rõ nhất cho sự quan tâm của Đảng và Nhà nước. Đó là ngày để toàn xã hội đề cao, thực hành lối sống văn hóa, để mỗi người dân đều cảm thấy tự hào và có trách nhiệm đóng góp vào dòng chảy văn minh nhân loại.
Nhận định điều này, PGS.TS Nguyễn Thị Song Hà (Viện Hàn lâm Khoa học Xã hội Việt Nam) cho rằng, việc Nghị quyết 80-NQ/TW về phát triển văn hóa lấy ngày 24/11 hằng năm làm ngày văn hóa Việt Nam với chủ trương người lao động được nghỉ làm và hưởng nguyên lương... để mỗi cá nhân, mỗi gia đình, cộng đồng được hòa mình vào các sự kiện văn hóa của dân tộc đã thể hiện rõ quan điểm lấy con người làm trung tâm của sự phát triển.
Có thể nói, với Nghị quyết 80, Việt Nam đang mở ra một chương mới - nơi sáng tạo là tài nguyên, công nghệ là công cụ và văn hóa là bản sắc kinh tế. Đây chính là bệ phóng chiến lược để biến nguồn lực nội sinh thành sức mạnh quốc gia, đưa Việt Nam hiện thực hóa khát vọng hùng cường bằng chính tâm hồn và trí tuệ của con người Việt.







