![]() |
| Theo WGC, giá trị nhu cầu vàng trang sức tại Việt Nam quý I/2026 tăng kỷ lục 28% so với quý trước. Ảnh: HD |
Nhu cầu vàng trang sức Việt Nam tăng ngược chiều thế giới
Báo cáo Xu hướng nhu cầu vàng quý I/2026 của Hội đồng Vàng Thế giới (WGC) cho thấy, tổng nhu cầu vàng toàn cầu đạt 1.231 tấn, tăng 2% so với cùng kỳ năm trước. Xét về giá trị, nhu cầu vàng toàn cầu lên mức kỷ lục 193 tỷ USD, tăng 74%, chủ yếu do giá vàng tăng mạnh.
Tuy nhiên, ở phân khúc vàng trang sức, xu hướng toàn cầu lại đi xuống. Theo ông Shaokai Fan, Giám đốc khu vực châu Á - Thái Bình Dương (trừ Trung Quốc) kiêm Giám đốc Ngân hàng Trung ương toàn cầu tại WGC, nhu cầu vàng trang sức toàn cầu quý I/2026 giảm 23% xuống còn khoảng 300 tấn do áp lực từ giá vàng tăng cao. Nếu xét về khối lượng, sức mua vàng trang sức tại nhiều thị trường lớn như Trung Quốc, Ấn Độ hay Trung Đông đều giảm. Tuy nhiên, xét về giá trị, nhu cầu vẫn tăng vì người dân và nhà đầu tư vẫn sẵn sàng chi tiền cho vàng dù giá neo ở mức rất cao.
Trong bức tranh chung đó, Việt Nam lại nổi lên như một trường hợp đặc biệt. Theo WGC, giá trị nhu cầu vàng trang sức tại Việt Nam quý I/2026 tăng kỷ lục 28% so với quý trước, đạt khoảng 472 triệu USD. Đây là diễn biến trái ngược với xu hướng chung của thế giới và cả khu vực ASEAN.
Theo ông Shaokai Fan, nguyên nhân quan trọng nằm ở sự thiếu hụt nguồn cung vàng miếng và vàng xu trong nước, khiến giá vàng nội địa chênh lệch rất cao so với thế giới, từ đó làm thay đổi hành vi đầu tư của người dân. “Trong bối cảnh thiếu nguồn cung vàng miếng và vàng xu, nhà đầu tư Việt Nam đã chuyển sang vàng nhẫn và vàng trang sức như một kênh đầu tư thay thế”, ông Shaokai Fan cho hay.
WGC cũng ghi nhận Việt Nam là quốc gia có diễn biến khá khác biệt trong ASEAN khi nhu cầu vàng miếng giảm trong lúc Indonesia và Thái Lan lại tăng mạnh. Theo tổ chức này, khác biệt lớn nhất của Việt Nam nằm ở cấu trúc thị trường và khả năng tiếp cận vàng.
Diễn biến này cũng phản ánh rõ trên thị trường trong nước. Giá vàng tăng mạnh suốt từ đầu năm đến nay khiến nhu cầu đầu tư vàng không hề suy giảm, nhưng dòng tiền đang chuyển dần sang các sản phẩm dễ tiếp cận hơn như vàng nhẫn, vàng trang sức hàm lượng cao thay vì vàng miếng truyền thống. Nhiều doanh nghiệp cũng cho rằng, nhu cầu vàng trang sức hiện nay không còn thuần túy là tiêu dùng mà đang pha trộn rất rõ yếu tố đầu tư và tích sản.
Cơ hội cho ngành xuất khẩu tỷ USD
Sự gia tăng nhu cầu vàng trang sức trong nước đang mở ra kỳ vọng mới đối với ngành chế tác vàng, đặc biệt trong bối cảnh Việt Nam được đánh giá có lợi thế lớn về tay nghề và chi phí sản xuất.
Vào tháng 5/2025, phát biểu tại buổi làm việc với Ban Chính sách, chiến lược Trung ương về cơ chế, chính sách quản lý hiệu quả thị trường vàng, Tổng Bí thư Tô Lâm (nay là Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm) đã chỉ rõ một trong 9 nhiệm vụ, giải pháp là khuyến khích phát triển thị trường vàng trang sức trong nước để từng bước đưa Việt Nam trở thành trung tâm chế tác, xuất khẩu vàng trang sức chất lượng cao, chuyển hóa vàng tích trữ thành sản phẩm có giá trị gia tăng.
Trong văn bản kiến nghị gửi Thủ tướng Chính phủ vào tháng 4/2026, Hiệp hội Kinh doanh vàng Việt Nam cho rằng, ngành vàng trang sức đang đứng trước “cơ hội phát triển chiến lược” sau khi Luật Đầu tư 2025 loại bỏ vàng trang sức mỹ nghệ khỏi danh mục ngành nghề kinh doanh có điều kiện.
Theo Hiệp hội, giá trị gia tăng tạo ra trong sản phẩm vàng trang sức hiện rất lớn, phần đóng góp từ lao động chế tác và tay nghề có thể chiếm từ 25-35% giá trị sản phẩm. Đây cũng là một trong số ít ngành vừa sử dụng nguyên liệu nhập khẩu nhưng vẫn có thể tái tạo nguồn ngoại tệ thông qua xuất khẩu. Hiệp hội Kinh doanh vàng Việt Nam cho rằng, nếu được tháo gỡ cơ chế phù hợp, ngành vàng trang sức có thể xuất khẩu từ 4-5 tỷ USD mỗi năm.
Tuy nhiên, điểm nghẽn lớn nhất hiện nay vẫn là nguồn nguyên liệu và cơ chế quản lý. Theo kiến nghị của Hiệp hội, hiện doanh nghiệp sản xuất vàng trang sức vẫn gặp nhiều khó khăn trong việc tiếp cận vàng nguyên liệu cả từ nhập khẩu lẫn huy động trong dân. Theo tính toán, nhu cầu vàng nguyên liệu cho sản xuất vàng trang sức vào khoảng 50 tấn mỗi năm, tương đương khoảng 5 tỷ USD. Nếu một nửa sản lượng được dùng để xuất khẩu, ngành này có thể mang về từ 3,5-4 tỷ USD ngoại tệ mỗi năm.
Vì thế, Hiệp hội đề xuất Chính phủ cho phép doanh nghiệp sản xuất vàng trang sức được nhập khẩu vàng nguyên liệu theo nhu cầu sản xuất và xuất khẩu, tương tự các ngành dệt may hay da giày. Đồng thời, cần có cơ chế rõ ràng cho hoạt động huy động vàng trong dân để phục vụ sản xuất chế tác.
Theo chuyên gia của WGC, nếu muốn thị trường vàng vận hành hiệu quả hơn, Việt Nam cần cải thiện khả năng tiếp cận vàng và giảm tình trạng chênh lệch giá quá lớn giữa trong nước và thế giới. Ông Shaokai Fan cho rằng, chênh lệch giá vàng trong nước hiện vẫn ở mức rất cao so với các thị trường lớn trong khu vực. Trong khi mức chênh lệch tại Trung Quốc hay Ấn Độ chỉ khoảng 14-20 USD/ounce thì tại Việt Nam từng tương đương khoảng 600 USD/ounce.
Đại diện WGC nhận định, để giảm áp lực chênh lệch giá, Việt Nam cần sớm làm rõ cơ chế nhập khẩu vàng nguyên liệu và cho phép nhiều doanh nghiệp tham gia hơn vào thị trường sản xuất vàng miếng và vàng trang sức.
Theo giới phân tích, xu hướng người dân chuyển từ vàng miếng sang vàng nhẫn và vàng trang sức không đơn thuần là thay đổi hành vi tiêu dùng, mà còn cho thấy thị trường đang bắt đầu dịch chuyển sang mô hình đầu tư linh hoạt hơn, nơi vàng không chỉ là tài sản cất giữ mà còn là sản phẩm chế tác có giá trị gia tăng cao. Nếu giải được bài toán nguồn nguyên liệu, cơ chế quản lý và phát triển thị trường minh bạch, vàng trang sức có thể trở thành một trong những ngành xuất khẩu vừa tạo việc làm tay nghề cao, vừa góp phần tái tạo nguồn ngoại tệ cho nền kinh tế.


