Rủi ro tăng trưởng tín dụng quá nhanh
Theo ông Nguyễn Anh Quân, Giám đốc Xếp hạng Khối Định chế Tài chính, FiinRatings, Việt Nam bước vào năm 2026 với động lực tăng trưởng kinh tế mạnh mẽ sau mức tăng trưởng ấn tượng trong năm 2025, cùng với mục tiêu đầy tham vọng đạt mức tăng trưởng GDP hai con số trong những năm tới.
Báo cáo của FiinGroup công bố vào ngày 28/01/2026 cho thấy, để đạt được mục tiêu này, tổng vốn đầu tư toàn xã hội được định hướng tăng và đạt gần 40% GDP, hàm ý về sự thiếu hụt nguồn vốn trung và dài hạn của nền kinh tế có thể dao động trong khoảng 20-30 tỷ USD mỗi năm.
Trong nhiều năm qua, khu vực ngân hàng đã gánh phần lớn nhu cầu vốn này. Tuy nhiên, đến cuối năm 2025, tỷ lệ tín dụng trên GDP của toàn hệ thống đã vượt 140%, một mức bắt đầu tiềm ẩn rủi ro ngay cả đối với một nền kinh tế mới nổi. Đồng thời, hệ thống cũng đang đối mặt với tình trạng chênh lệch kỳ hạn: khoảng 90% tiền gửi của khách hàng có kỳ hạn dưới 12 tháng, trong khi lại phải tài trợ cho các dự án hạ tầng có thời hạn 10 năm, 20 năm hoặc dài hơn. Điều đó cho thấy tín dụng ngân hàng đang dần chạm tới giới hạn.
![]() |
| Ông Kim Eng Tan (trái) và ông Nguyễn Anh Quân (phải) tại Diễn đàn Thị trường Trái phiếu doanh nghiệp Việt Nam năm 2026. Ảnh: FiinGroup. |
Tại Diễn đàn Thị trường Trái phiếu doanh nghiệp Việt Nam 2026, ông Kim Eng Tan, Giám đốc Xếp hạng tín nhiệm Quốc gia châu Á - Thái Bình Dương, S&P Global Ratings nhận định, trong nhóm các nền kinh tế có mức thu nhập tương đồng, Việt Nam là quốc gia có hệ thống ngân hàng phát triển rất nhanh và có quy mô lớn nhất. Tuy nhiên, đi kèm với đó là mức độ rủi ro của hệ thống cũng ở mức tương đối cao. Một phần nguyên nhân đến từ việc tăng trưởng tín dụng đã diễn ra với tốc độ rất nhanh trong nhiều năm liên tiếp.
Điều này có nghĩa là nếu Việt Nam tiếp tục dồn phần lớn nhu cầu tài trợ đầu tư vào hệ thống ngân hàng, tổng tài sản của hệ thống sẽ tiếp tục tăng lên, nhưng hồ sơ rủi ro của hệ thống sẽ không được cải thiện. Từ góc độ tín nhiệm quốc gia, đây là vấn đề cần lưu ý, bởi hệ thống ngân hàng là một nghĩa vụ dự phòng quan trọng đối với Chính phủ. "Khi hệ thống này vừa lớn vừa có mức rủi ro tương đối cao, điều đó sẽ trở thành yếu tố bất lợi trong đánh giá tín nhiệm", đại diện S&P Ratings cho biết.
Đến lúc trái phiếu doanh nghiệp chia sẻ gánh nặng vốn
Ông Nguyễn Anh Quân cho rằng, cần nhìn nhận rằng không thể tiếp tục đặt toàn bộ gánh nặng cung ứng vốn dài hạn lên vai hệ thống ngân hàng. Đây cũng là lý do thị trường trái phiếu doanh nghiệp cần phải phát huy vai trò lớn hơn trong việc chia sẻ gánh nặng vốn cho nền kinh tế.
Thực tiễn cho thấy, các nền kinh tế phát triển đều xây dựng cấu trúc tài chính cân bằng giữa tín dụng ngân hàng và thị trường vốn. Trong đó, thị trường trái phiếu giữ vai trò then chốt trong việc cung cấp nguồn vốn dài hạn, ổn định với chi phí hợp lý cho doanh nghiệp, đặc biệt trong các lĩnh vực hạ tầng, năng lượng và sản xuất, những ngành có chu kỳ đầu tư dài.
Không chỉ giúp giảm áp lực lên hệ thống ngân hàng, việc mở rộng thị trường trái phiếu còn góp phần nâng cao khả năng chống chịu của nền kinh tế trước các cú sốc bên ngoài, thông qua việc đa dạng hóa nguồn vốn và cải thiện hiệu quả phân bổ nguồn lực.
![]() |
| Nguồn: S&P Global Ratings. |
Tuy nhiên, để thị trường trái phiếu doanh nghiệp thực sự phát huy vai trò, cần tiếp tục hoàn thiện các yếu tố nền tảng như cơ chế định giá, hệ thống nhà đầu tư tổ chức, hạ tầng giao dịch và khuôn khổ pháp lý. Đây là điều kiện tiên quyết để thị trường chuyển từ giai đoạn phục hồi sang phát triển bền vững, trở thành kênh dẫn vốn chủ lực trong cấu trúc tài chính quốc gia.
Theo ông Nguyễn Quang Thuân, Chủ tịch FiinGroup, cơ hội phát triển của thị trường vốn Việt Nam là rất lớn. Thị trường trái phiếu hiện đã đạt quy mô tương đương khoảng 11% GDP, mức không thấp so với một số quốc gia trong khu vực, thậm chí cao hơn một số thị trường. Tuy nhiên, câu hỏi đặt ra là vì sao thị trường vẫn chưa phát huy đầy đủ vai trò của mình đối với nền kinh tế.
Một trong những nguyên nhân là cơ cấu thị trường hiện vẫn chưa thực sự cân bằng. Khoảng 91% quy mô hiện nay là trái phiếu riêng lẻ, trong khi trái phiếu ngân hàng chiếm tỷ trọng rất lớn, khoảng 70%.
"Trái phiếu ngân hàng là cần thiết, nhưng nếu thị trường muốn thực sự trở thành kênh dẫn vốn cho phát triển dài hạn, thì cần mở rộng mạnh hơn nữa sang trái phiếu của doanh nghiệp hạ tầng, doanh nghiệp bất động sản lành mạnh, doanh nghiệp năng lượng, điện tái tạo và các lĩnh vực then chốt khác của nền kinh tế", ông Thuân khẳng định.



