![]() |
| Tiền gửi dân cư đã đạt hơn 10,5 triệu tỷ đồng sau 3 tháng đầu năm 2026. Ảnh minh hoạ: ST |
Dòng tiền dân cư tiếp tục chảy vào ngân hàng
Số liệu mới nhất từ Ngân hàng Nhà nước cho thấy, đến cuối tháng 3/2026, tiền gửi dân cư đã đạt hơn 10,56 triệu tỷ đồng, tăng gần 226.000 tỷ đồng chỉ sau 3 tháng đầu năm. Đây là mức cao nhất từ trước tới nay và tiếp tục nối dài xu hướng tăng liên tục trong nhiều năm qua.
Nếu như cuối năm 2021, lượng tiền gửi của khu vực dân cư mới ở mức khoảng 5,2 triệu tỷ đồng thì đến cuối năm 2025 đã tăng gấp đôi. Điều này phản ánh xu hướng ưu tiên an toàn vốn của người dân trong bối cảnh các kênh đầu tư khác chưa thực sự ổn định.
Đáng chú ý, đà tăng của tiền gửi dân cư diễn ra trong bối cảnh thị trường từng trải qua một giai đoạn cạnh tranh lãi suất khá mạnh từ cuối năm 2025 đến đầu năm 2026. Nhiều ngân hàng đã nâng lãi suất huy động thêm 1-3%/năm, đưa lãi suất tiền gửi kỳ hạn 12 tháng lên phổ biến quanh 7%/năm, thậm chí 8-9%/năm đối với một số chương trình ưu đãi.
Trong khi đó, tiền gửi của các tổ chức kinh tế lại diễn biến theo chiều ngược lại. Đến cuối tháng 3/2026, tiền gửi doanh nghiệp chỉ còn hơn 6 triệu tỷ đồng, giảm hơn 166.000 tỷ đồng so với cuối năm 2025.
Theo các chuyên gia, sự dịch chuyển này cho thấy doanh nghiệp không còn duy trì nhiều tiền mặt nhàn rỗi trong ngân hàng như trước, trong khi một bộ phận dòng tiền đã được đưa trở lại hoạt động sản xuất kinh doanh hoặc dịch chuyển sang các kênh đầu tư khác. Chính sự phân hóa giữa hai dòng tiền đang tạo ra một bức tranh thanh khoản mới cho hệ thống ngân hàng.
Phân tích về cấu trúc dòng tiền, ông Nguyễn Xuân Thành, Giảng viên Trường Chính sách công và Quản lý Fulbright cho rằng, điều này phản ánh việc các doanh nghiệp không còn duy trì nhiều tiền mặt nhàn rỗi mà chuyển sang tiền gửi có kỳ hạn hoặc gặp khó khăn về thanh khoản. Trong khi đó, dòng tiền cá nhân có xu hướng chảy về khu vực có lãi suất hấp dẫn hơn.
Bên cạnh đó, TS. Lê Xuân Nghĩa, nguyên Phó Chủ tịch Ủy ban Giám sát Tài chính Quốc gia nhận định, sự dịch chuyển của dòng vốn này là nguồn lực đáng kể giúp gia tăng tổng cầu của nền kinh tế, hỗ trợ cho nhiều lĩnh vực từ công nghiệp, thương mại đến hạ tầng. Tuy nhiên, thách thức lớn nhất hiện nay là làm sao để chuyển hóa nguồn tài sản tích lũy khổng lồ đó, bao gồm cả vàng, thành nguồn vốn phục vụ đầu tư phát triển. Hiện tại, tỷ lệ đầu tư toàn xã hội của Việt Nam đang ở mức 34% GDP và cần phải nâng lên gần 40% để đạt được các mục tiêu tăng trưởng cao trong tương lai.
Áp lực lãi suất chưa hoàn toàn biến mất
Mặc dù tiền gửi dân cư tăng mạnh, song áp lực đối với mặt bằng lãi suất vẫn hiện hữu khi nhu cầu tín dụng tăng nhanh hơn tốc độ huy động vốn. Theo số liệu của Công ty Chứng khoán Rồng Việt (VDSC), đến tháng 4/2026, huy động vốn toàn hệ thống chỉ tăng khoảng 2,2% trong khi tín dụng đã tăng 4,4%.
Tình trạng này khiến nhiều ngân hàng phải đối mặt với áp lực cân đối nguồn vốn. Thực tế, một số ngân hàng vẫn điều chỉnh tăng lãi suất cơ sở hoặc lãi suất tham chiếu trong thời gian qua.
Đơn cử, KienlongBank vừa nâng lãi suất cơ sở thêm 0,7 điểm phần trăm lên 9,5%/năm từ giữa tháng 6/2026. Với công thức lãi suất thả nổi phổ biến hiện nay là lãi suất cơ sở cộng biên độ 3-4%/năm, chi phí vay vốn thực tế của nhiều khách hàng đã lên tới 14-15%/năm.
Trong bối cảnh đó, Ngân hàng Nhà nước tiếp tục phát đi thông điệp rõ ràng về mục tiêu giảm mặt bằng lãi suất. Tại hội nghị mới đây do Ngân hàng Nhà nước Chi nhánh Khu vực 1 tổ chức, bà Hoàng Huyền Châm, Phó Giám đốc Ngân hàng Nhà nước Khu vực 1 cho biết, từ quý IV/2025 đến nay, thị trường tiền tệ xuất hiện nhiều diễn biến không thuận lợi, thanh khoản có thời điểm gặp khó khăn, mặt bằng lãi suất huy động và cho vay duy trì ở mức cao, ảnh hưởng tới khả năng tiếp cận vốn của doanh nghiệp và người dân.
Trước tình hình đó, Ngân hàng Nhà nước đã triển khai nhiều giải pháp nhằm ổn định thị trường tiền tệ và hỗ trợ giảm lãi suất. Đặc biệt, theo Thông báo số 117/TB-NHNN, các tổ chức tín dụng được yêu cầu từ ngày 10/4/2026 giảm tối thiểu 0,5%/năm lãi suất tiền gửi đối với các kỳ hạn từ 6 tháng trở lên so với mức áp dụng cuối tháng 3/2026, đồng thời giảm lãi suất cho vay.
Tuy nhiên, cơ quan quản lý cũng ghi nhận vẫn còn những biểu hiện cần lưu ý trong hoạt động huy động vốn. Vì thế, cơ quan quản lý yêu cầu các tổ chức tín dụng thực hiện giảm lãi suất một cách thực chất, không mang tính hình thức. Các ngân hàng bảo đảm sự thống nhất giữa lãi suất niêm yết, lãi suất công bố và lãi suất thực tế áp dụng cho khách hàng; không sử dụng các cơ chế cộng lãi suất hoặc ưu đãi làm phát sinh mặt bằng lãi suất thực tế cao hơn mức công bố.
Các ngân hàng cũng được yêu cầu rà soát các chương trình ưu đãi, cơ chế phê duyệt lãi suất ngoại lệ và kiểm soát chặt các hình thức cạnh tranh huy động vốn không lành mạnh. Đồng thời, nghiêm túc thực hiện các quy định của pháp luật về huy động ngoại tệ và cho vay cầm cố bằng ngoại tệ; hạn chế việc lợi dụng hoặc lách các quy định về huy động ngoại tệ để thực hiện cho vay VND có bảo đảm bằng ngoại tệ, sau đó gửi lại VND tại chính ngân hàng để hưởng chênh lệch lãi suất.
Cùng với đó là rà soát các chương trình ưu đãi, chính sách cộng lãi suất, cơ chế phê duyệt lãi suất ngoại lệ và các hình thức ưu đãi khác áp dụng đối với hoạt động huy động vốn cũng như quá trình thực thi; bảo đảm các chính sách này phù hợp với chủ trương điều hành của Ngân hàng Nhà nước, không làm gia tăng mặt bằng lãi suất huy động trên thị trường, không tạo cạnh tranh lãi suất thiếu lành mạnh giữa các tổ chức tín dụng.
Song song với yêu cầu giảm lãi suất, cơ quan quản lý cũng nhấn mạnh việc sử dụng vốn hiệu quả hơn. Các tổ chức tín dụng phải kiểm soát chặt cơ cấu kỳ hạn huy động và cho vay, bảo đảm cân đối nguồn vốn; đồng thời tập trung tín dụng vào lĩnh vực sản xuất kinh doanh, lĩnh vực ưu tiên và các động lực tăng trưởng của nền kinh tế. Một yêu cầu khác là tăng cường xử lý nợ nhóm 2, nợ quá hạn và nợ xấu nhằm hạn chế tình trạng vốn bị “giam” trong các khoản vay kém hiệu quả.
Trong bối cảnh tín dụng tiếp tục tăng nhanh, doanh nghiệp vẫn cần vốn để mở rộng hoạt động, còn người dân vẫn duy trì xu hướng gửi tiết kiệm, bài toán của ngành ngân hàng hiện nay không chỉ là giảm lãi suất bằng mệnh lệnh hành chính. Quan trọng hơn là kiểm soát chi phí vốn, nâng cao hiệu quả sử dụng vốn và đưa dòng tín dụng chảy vào đúng các lĩnh vực tạo ra tăng trưởng cho nền kinh tế.


