Tăng trưởng kinh tế Việt Nam 2025 và định hướng năm 2026
Tăng trưởng kinh tế Việt Nam 2025 và định hướng năm 2026
GS, TS. Ngô Thắng Lợi
PGS, TS. Bùi Ðức Tuân
Đại học Kinh tế Quốc dân
ThS. Ngô Hữu Việt Long
Tập đoàn Viettel
Tóm tắt
Năm 2025, tình hình thế giới tiếp tục biến động phức tạp, khó lường trên mọi mặt, đặc biệt là kinh tế và ở trong nước, thời cơ, thuận lợi và khó khăn, thách thức đan xen, song khó khăn, thách thức nhiều hơn. Nước ta vừa phải phản ứng linh hoạt, hiệu quả trước những biến động bên ngoài, vừa tập trung khắc phục những hạn chế, bất cập nội tại kéo dài nhiều năm, đồng thời phải dành nhiều thời gian, nguồn lực giải quyết những vấn đề đột xuất, phát sinh. Năm 2025 khép lại với nhiều dấu ấn quan trọng, Việt Nam đã lội ngược dòng ngoạn mục với GDP tăng trưởng đạt mức cao gắn với kỷ luật tài khoá vững vàng, thể hiện hiệu ứng thuận của hàng loạt quyết sách lớn được ban hành với tốc độ nhanh chưa từng có. Tuy nhiên, vẫn còn đó, nhiều bất cập, đặc biệt là những khó khăn liên quan đến khu vực kinh tế trong nước. Theo quan điểm nghiên cứu, bài viết này phân tích nhận định, đánh giá về bức tranh tăng trưởng kinh tế Việt Nam trên cả hai khía cạnh, từ đó, định hướng một bức tranh phản ánh hiện thực, nhưng tươi sáng hơn cho năm 2026, năm khởi đầu của một chu kỳ chính trị và kinh tế mới với một số khuyến nghị chủ yếu tập trung vào khắc phục những hạn chế, rào cản phát triển của năm qua.
Từ khóa: Tăng trưởng, tiêu dùng nội địa, thị trường trong nước, DN trong nước, DN FDI, thâm hụt thương mại, thặng du thương mại, cấu trúc dòng vốn tín dụng
Summary
In 2025, the global situation continued to undergo complex and unpredictable developments in all aspects, particularly in the economic sphere. Domestically, opportunities and favorable conditions were interwoven with difficulties and challenges, with the latter being more dominant. Viet Nam had to respond flexibly and effectively to external fluctuations while simultaneously focusing on addressing long-standing internal shortcomings and structural bottlenecks, as well as allocating considerable time and resources to resolving sudden and emerging issues. As 2025 came to an end, it marked many important milestones. Viet Nam achieved a remarkable economic turnaround, with GDP growth reaching a high level alongside sound fiscal discipline, demonstrating the positive effects of a series of major policy decisions issued at an unprecedented pace. However, a number of shortcomings persist, particularly those related to difficulties faced by the domestic economic sector. From a research perspective, this paper presents analyses, assessments, and evaluations of Viet Nam’s economic growth performance, reflecting both achievements and existing constraints. Finally, it outlines an outlook that is both realistic and more optimistic for 2026, the first year of a new political and economic cycle, together with key recommendations that primarily focus on overcoming the limitations and development barriers identified in the previous year.
Keywords: Economic growth, domestic consumption, domestic market, domestic enterprises, FDI enterprises, trade deficit, trade surplus, credit capital structure
NHỮNG THÀNH QUẢ LẦN ĐẦU TIÊN ĐẠT ĐƯỢC
Việt Nam nằm trong nhóm nước đang phát triển có mức thu nhập trung bình cao do hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ tăng trưởng kinh tế 8%
Năm 2025, Việt Nam đã vượt qua những thách thức kép, vừa khắc phục hậu quả thiên tai lịch sử trong nước, vừa chèo lái con thuyền kinh tế qua những đợt sóng dữ của thị trường toàn cầu, tăng trưởng vượt xa mọi kỳ vọng, đạt 8,02%, cao gấp 7 lần Thái Lan, gấp 3 lần Singapore và bỏ xa phần lớn các nền kinh tế lớn trong khu vực. Kết quả này chứng minh cho thế giới rằng: Việt Nam chính thức nằm trong nhóm các nền kinh tế tăng trưởng mạnh nhất châu Á, khẳng định vị thế của một con hổ kinh tế mới.
Hình 1: Tăng trưởng kinh tế 2025 (%)
![]() |
| Nguồn: Hãng thông tấn Sputnik tháng 1/2026Nguồn: Hãng thông tấn Sputnik tháng 1/2026 |
Điều đáng ghi nhận là tăng trưởng không dựa vào nới lỏng ồ ạt mà gắn với kỷ luật tài khóa, tiền tệ và khả năng hấp thụ thực của nền kinh tế. Đây là lựa chọn mang tính chiến lược, giúp Việt Nam tránh được những hệ lụy trung hạn và dài hạn thường thấy ở các chu kỳ tăng trưởng “nóng”. CPI bình quân 3,29%, lạm phát cơ bản thấp hơn, các cân đối vĩ mô được bảo đảm. Trong điều kiện dư địa chính sách không còn quá dồi dào, việc giữ được lạm phát trong tầm kiểm soát, bảo đảm các cân đối lớn của nền kinh tế và duy trì niềm tin thị trường là thành công mang tính nền tảng. Tỷ giá được điều hành linh hoạt, biến động trong biên độ cho phép, đủ để hấp thụ các cú sốc bên ngoài mà không gây xáo trộn lớn trong nước. Dự trữ ngoại hối tiếp tục được củng cố, đóng vai trò là “vùng đệm” quan trọng, giúp Ngân hàng Nhà nước chủ động hơn trong can thiệp thị trường khi cần thiết.
Với kết quả tăng trưởng trên, quy mô kinh tế tăng lên 510 tỷ USD, xếp vị trí 32 thế giới (tăng 5 bậc so với 2024), tạo động lực cho phát triển bền vững và nâng cao vị thế quốc gia trong chuỗi cung ứng toàn cầu, GDP bình quân đầu người năm 2025 đạt 5.000 USD, tăng 1,4 lần so với năm 2020 và 11,9% so với năm 2024, đưa Việt Nam vào nhóm nước thu nhập trung bình cao theo chuẩn của WB (từ 4516 - 14005USD). Kết quả này đủ cải thiện thu nhập bình quân đầu người để Việt Nam không rơi vào bẫy thu nhập trung bình, và tạo thêm không gian cho các chính sách an sinh xã hội.
Hình 2: Thu nhập bình quân đầu người Việt Nam (USD)
![]() |
| Nguồn: WB, tổng hợp từ các báo cáo Phát triển thế giới các năm |
Việt Nam vào nhóm 15 nền thương mại lớn nhất thế giới do những thành quả đáng ghi nhận của thương mại quốc tế
Theo số liệu của Cục Hải quan, năm 2025 tổng kim ngạch xuất nhập khẩu của Việt Nam đạt khoảng 920 tỷ USD, tăng gần 17% so với năm trước, tăng gấp trên 2 lần tốc độ tăng trưởng GDP.
Hình 3: Kim ngạch xuất nhập khẩu Việt Nam (tỷ USD)
![]() |
| Nguồn: Cục Hải quan Việt Nam |
Việc xuất nhập khẩu cán mốc 920 tỷ USD chính là động lực lớn nhất cho thành quả tăng trưởng nhanh năm 2025, đồng thời tạo ra những tác động lan tỏa quan trọng tới ổn định kinh tế vĩ mô và năng lực sản xuất dài hạn. Xuất khẩu đạt khoảng 470,59 tỷ USD, tăng 15,9% (cao hơn bình quân của Việt Nam đạt khoảng 10%/năm giai đoạn 2020-2024) cho thấy, năng lực sản xuất, tổ chức chuỗi cung ứng và khả năng tận dụng thị trường của DN Việt Nam đã có những bước tiến đáng kể. Kim ngạch xuất khẩu năm 2025 tăng nhanh đã thể hiện nhiều ngành hàng xuất khẩu chủ lực của Việt Nam vẫn thể hiện khả năng thích ứng tốt, vượt qua thách thức và tận dụng hiệu quả các cơ hội thị trường. Trong đó phải kể đến nhóm hàng công nghiệp chế biến - chế tạo tiếp tục giữ vai trò trụ cột khi chiếm khoảng 85% tổng kim ngạch, với nhiều ngành duy trì mức tăng trưởng hai con số, các ngành như điện tử, máy móc thiết bị, dệt may, da giày, đồ gỗ... đã chủ động tái cơ cấu sản xuất, đa dạng hóa thị trường và sản phẩm, tận dụng tốt các hiệp định thương mại để duy trì và mở rộng đơn hàng. Nhập khẩu đạt 449,41 tỷ USD, tăng 18% so với năm 2024, Trong đó, khoảng 35-40% là nhập khẩu máy móc, thiết bị, tức là đầu tư cho công nghệ và năng lực sản xuất trong tương lai. Vì vậy, nhập khẩu không phải là “điểm yếu”, mà là một cấu phần không thể thiếu trong quá trình nâng cao năng lực cạnh tranh của nền kinh tế. Với kết quả này, năm 2025, duy trì xuất siêu hơn 21 tỷ USD góp phần đáng kể vào tốc độ tăng trưởng GDP 8,02% của Việt nam năm 2025.
Hình 4: Tổng hợp các chỉ số kinh tế năm 2025
![]() |
| Nguồn: Cục Thống kê |
Việt Nam thuộc nhóm các quốc gia có mức tăng trưởng du lịch cao nhất thế giới
Trong bối cảnh du lịch toàn cầu đang từng bước phục hồi, tốc độ tăng trưởng của du lịch Việt Nam nổi lên như một điểm sáng. So với thời điểm trước đại dịch COVID-19, du lịch Việt Nam đã phục hồi ở mức khoảng hơn 110% (trong khi du lịch thế giới mới chỉ phục hồi khoảng 90%). Tổng thu từ du lịch ước đạt khoảng trên 1 triệu tỷ đồng và tăng 22,1% so với cùng kỳ năm 2024, du lịch Việt Nam đã phục hồi hoàn toàn, không chỉ về số lượng khách mà cả về chất lượng và hiệu quả kinh tế. Lần đầu tiên trong 65 năm hình thành và phát triển, ngành Du lịch Việt Nam đạt cột mốc 20 triệu lượt khách quốc tế trong một năm (cụ thể là 21,5 triệu lượt, tăng 21% so với 2024) và 135 triệu lượt khách nội địa (tăng 22,7% so với 2024), vượt qua “năm hoàng kim” là 2019 tới hơn 10%, điều này đánh dấu một bước phát triển mới trong tiến trình phục hồi, hội nhập sâu rộng vào thị trường du lịch thế giới, khẳng định vị thế, uy tín, lợi thế cạnh tranh của du lịch Việt Nam trên toàn cầu. Với tốc độ tăng trưởng cao của cả khách và doanh thu, du lịch Việt Nam được Tổ chức Du lịch Liên Hợp Quốc (UN Tourism) đánh giá nằm trong nhóm các quốc gia có mức tăng trưởng cao nhất thế giới, trong bối cảnh tăng trưởng bình quân toàn cầu năm 2025 chỉ đạt khoảng 5%, khu vực châu Á - Thái Bình Dương đạt 8%. Ngành du lịch đã thực sự được nhìn nhận là một "đường dẫn: tăng trưởng, lan tỏa sang thương mại, vận tải, lưu trú, ẩm thực, văn hóa và công nghiệp sáng tạo.
Bảng: FDI thực hiện, tỷ lệ FDI/tổng vốn đầu tư và FDI giải ngân các năm 2021-2025
![]() |
| Nguồn: Tính toán từ số liệu Cục Thống kê |
Những thành quả bước đầu của chiến lược chuyển đổi số quốc gia và kinh tế số trở thành động lực quan trọng của nền kinh tế.
Năm 2025, kinh tế số tiếp tục khẳng định vai trò là một trong những động lực tăng trưởng quan trọng của nền kinh tế Việt Nam, gắn chặt với tiến trình chuyển đổi số quốc gia. Tỷ trọng giá trị tăng thêm của kinh tế số trong GDP ước đạt 14,02%, tương đương khoảng 72,1 tỷ USD, tăng 1,64 lần so với năm 2020. Kinh tế số phát triển theo cả chiều rộng và chiều sâu, trong đó các ngành kinh tế số lõi chiếm trên 60% (bao gồm: Kinh tế số ICT/viễn thông, kinh tế số Internet/nền tảng và kinh tế số ngành), đồng thời mức độ số hóa trong các ngành, lĩnh vực ngày càng được mở rộng, đặc biệt là thương mại, tài chính, dịch vụ hành chính và hạ tầng năng lượng. Ở cấp địa phương, kinh tế số đã trở thành nhân tố tạo khác biệt về tăng trưởng, với một số tỉnh, thành phố có tỷ trọng đóng góp trong GRDP vượt 20% (Bắc Ninh: 46,3%, Hải Phòng: 22,28% và Phú Thọ đạt 22,71%) đều là những địa phương có tốc độ tăng trưởngng GRDP cao.
Những kết quả này phản ánh hiệu quả bước đầu của Chiến lược chuyển đổi số quốc gia, vai trò dẫn dắt của Chính phủ số và nỗ lực đồng bộ của các cấp, các ngành, DN và người dân trong phát triển kinh tế số và xã hội số.
Việt Nam đã lập kỷ lục về thu hút dòng vốn FDI, dòng tiền ngoại chảy mạnh nhất trong giai đoạn 2021-2025 vào sản xuất - kinh doanh.
Theo số liệu vừa được Cục Thống kê (Bộ Tài chính) công bố, năm 2025 là năm lập kỷ lục của dòng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) trên các phương diện (xem Bảng 1).
Ngoài mặt số lượng, có thể thấy, Việt Nam đang thu hút dòng vốn chất lượng cao hơn, thực chất hơn, đóng góp lớn vào tăng trưởng, năng lực hấp thụ và sản xuất được nâng cao qua việc chuyển giao công nghệ và hình thành chuỗi cung ứng, khẳng định vị thế điểm đến an toàn và hấp dẫn toàn cầu. Những điểm sáng trong bức tranh thu hút FDI của Việt Nam năm 2025 có thể khẳng định qua những dấu hiện quan trọng: (i) Ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tiếp tục khẳng định vị thế dẫn đầu, đóng vai trò là trụ cột thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài: Nếu tính gộp cả vốn đăng ký mới và vốn đăng ký điều chỉnh, tổng vốn đổ vào lĩnh vực chế biến, chế tạo lên tới 18,59 tỷ USD, chiếm 59,2% tổng vốn, đây là tín hiệu tích cực cho thấy chất lượng dòng vốn FDI đang đi đúng định hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa của Việt Nam đã đặt ra; (ii) Sự gia tăng mạnh mẽ của dòng vốn điều chỉnh (tăng lên từ các cam kết của những năm trước), khoảng 17% so với số hiện có, đây là minh chứng rõ nét nhất cho niềm tin dài hạn vào sự ổn định vĩ mô và tiềm năng tăng trưởng của thị trường Việt Nam.
NHỮNG HẠN CHẾ CẦN NHÌN NHẬN
Một là, ngành thương mại - dịch vụ tiêu dùng trong nước có biểu hiện trì trệ.
Năm 2025, tốc độ tăng trưởng nhóm ngành này chỉ đạt tốc độ tăng trưởng 6,7%, thấp hơn tốc độ tăng trưởng chung của nền kinh tế và ngành thương mại dịch vụ nói chung (các số liệu tương ứng là 8,02% và 8,62%). Điều này cho thấy, sức mua của thị trường trong nước còn yếu dưới tác động kép của thiên tai lịch sử miền Trung và hạn chế tài chính của các hộ gia đình. Đây là dấu hiệu cảnh báo về “độ mỏng” của thị trường tiêu dùng trong nước - trụ cột quan trọng từng giúp nền kinh tế chống chọi với các cú sốc, chưa đủ vững để duy trì tăng trưởng. Theo kết quả điều tra đánh giá của DN (được thực hiện bởi Cục Thống kê cuối năm 2025), Thương mại dịch vụ tiêu dùng trong nước tăng trưởng chậm chủ yếu là do: (i) Về phía cầu, nhu cầu thị trường trong nước giảm (chiếm 49%) và (ii) Về phía cung, khả năng cạnh tranh các sản phẩm ngành hàng tiêu dùng trong nước thấp (chiếm 43,1%). Vì vậy, nếu không kịp thời điều chỉnh, yếu tố này có thể hạn chế hiệu quả của các chính sách hỗ trợ xuất khẩu và đầu tư công, đồng thời ảnh hưởng đến đà tăng trưởng kinh tế trong những năm tới.
Hai là, sự lấn át khó khăn so với thuận lợi trong hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp nội địa, nhất là khu vực tư nhân.
Nếu sử dụng kết quả điều tra doanh nghiệp (DN) của Tổng cục Thống kê hàng quý trong năm 2025 (đánh giá mức độ thuận lợi và khó khăn của DN trong sản xuất, kinh doanh của quý sau so với quý trước) theo Chỉ số cân bằng chung (phép trừ của % DN đánh giá tốt hơn và % DN đánh giá xấu hơn so với quý trước) có thể thấy con số nhận được chủ yếu vẫn là các số âm: quý II so với quý I, chỉ số cân bằng chung là (-0,1%), quý III so với quý II là (-0,8%), quý IV so với quý III chỉ số này nhận gía trị dương (+1,2%) nhưng ngành Thương mại - dịch vụ vẫn nhận giá trị âm (với các số liệu tương ứng các quý II, III và IV lần lượt là: -5,5%, 3,4% và 2,5%, tức là số DN đánh gía khó khăn hơn luôn nhiều hơn số DN đánh giá thuận lợi hơn. Chính vì thế ngành thương mại dịch vụ năm 2025 chỉ tăng trưởng 8,62% thấp hơn ngành công nghiệp - xây dựng (đạt tới 8,95%). Những khó khăn trong hoạt động kinh doanh của DN không chỉ là nhu cầu thị trường trong nước thấp, tính cạnh tranh trong nước cao, còn là những khó khăn từ các môi trường đầu tư, cơ hội bỏ vốn, các chính sách, pháp luật nhà nước và những hạn chế trong bản thân khu vực kinh tế tư nhân, các DN nhỏ và vừa, nhiều DN vẫn đang đối mặt với chi phí vốn cao, áp lực cạnh tranh khốc liệt và khó khăn trong tiếp cận thị trường. Hậu quả của những khó khăn trong kinh doanh đã dẫn đến số lượng DN rút lui khỏi thị trường vẫn còn cao. Tính chung năm 2025, tổng số DN rút khỏi thị trường năm 2025 là 227,2 nghìn DN, bình quân một tháng có tới 18,9 nghìn DN rút lui khỏi thị trường dưới các hình thức khác nhau, cao hơn so với các năm trước (các con số tương ứng của năm 2024 và 2023 làn lượt là 16,5 nghìn và 14,4 nghìn).
Ba là, những bất hợp lý trong cấu trúc dòng vốn tín dụng trong nước.
Tín dụng toàn nền kinh tế đến cuối tháng 12/2025 đã vượt 18,4 triệu tỷ, tăng 17,87% so với cuối năm 2024, vượt mục tiêu tăng 16% của cả năm 2024. Đây là mức tăng trưởng khá cao. Tuy nhiên, trong số đó, khoảng 69,8% tổng tín dụng chảy vào khu vực dịch vụ, 24% vào khu vực công nghiệp và xây dựng, 6,2% vào khu vực nông, lâm nghiệp và thuỷ sản. Cơ cấu tín dụng tạo ra sự lệch pha giữa các ngành và động lực tăng trưởng, khu vực sản xuất vật chất - nền tảng nâng cao năng lực sản xuất và xuất khẩu chưa được tiếp sức đúng mức. Dòng vốn chưa thực sự chảy vào các lĩnh vực hiệu quả như công nghệ, đổi mới sáng tạo hay nâng cao năng suất. Tỷ trọng tín dụng vào nông nghiệp còn thấp so với tiềm năng của khu vực này đối với xuất khẩu nông, thủy sản, an ninh lương thực. Nếu không điều chỉnh cơ chế phân bổ, tín dụng tăng cao có thể tạo ra bong bóng tài sản hoặc lãng phí nguồn lực, thay vì thúc đẩy tăng trưởng bền vững.
Bốn là, thương mại quốc tế của khu vực kinh tế trong nước có xu hướng giảm nhiều và trạng thái nhập siêu kéo dài.
Năm 2025, Việt Nam đã thành công trong lĩnh vực thương mại quốc tế, tuy nhiên, tăng trưởng xuất nhập khẩu hiện vẫn phụ thuộc lớn vào khu vực DN có vốn FDI, trong khi khu vực DN trong nước chưa tham gia sâu vào các khâu có giá trị gia tăng cao của chuỗi sản xuất và phân phối toàn cầu. Nhiều ngành hàng xuất khẩu chủ lực còn phụ thuộc đáng kể vào nguyên liệu, linh kiện nhập khẩu, khiến nền kinh tế dễ bị tổn thương trước các cú sốc bên ngoài và nguy cơ đứt gãy chuỗi cung ứng. Trong tổng số kim ngạch xuát nhập khảu đạt được năm 2025, kim ngạch xuất nhập khẩu của khu vực FDI đạt hơn 660 tỷ USD, chiếm khoảng 72% tổng kim ngạch và đóng góp gần như toàn bộ mức tăng so với năm trước. Trong khi đó, khu vực DN trong nước chỉ đạt khoảng 257 tỷ USD, gần như đi ngang. Nếu tính riêng kim ngạch xuất khẩu hàng hóa, năm 2025 đạt 475,04 tỷ USD, tăng 17,0% so với năm trước, trong đó, khu vực kinh tế trong nước chỉ đạt 107,95 tỷ USD, giảm 6,1%, chiếm 22,7% tổng kim ngạch xuất khẩu; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài (kể cả dầu thô) đạt 367,09 tỷ USD, tăng 26,1%, chiếm 77,3%. Kim ngạch nhập khẩu hàng hóa đạt tăng trưởng tới 19,4% so với năm trước, trong đó khu vực kinh tế trong nước đạt 137,38 tỷ USD, giảm 2,0%; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài đạt 317,63 tỷ USD, tăng 31,9%. Với thực trạng suy giảm của xuất nhập khẩu hàng hoá của khu vực kinh tế trong nước nên cán cân thương mại càng phản ánh rõ sự lệch pha của khu vực kinh tế này với khu vực có vốn đầu tư nước ngoài. Phần tăng trưởng ấn tượng nhất của bức tranh xuất nhập khẩu vì thế chủ yếu thuộc về khối FDI. Trong khi khu vực FDI xuất siêu lớn, ước đạt 48,2 tỷ USD, thì khu vực DN trong nước tiếp tục nhập siêu ở mức cao, thâm hụt 28,76 tỷ USD. Vì thế, mặc dù tính chung cả năm 2025, cán cân thương mại hàng hóa xuất siêu 20,07 tỷ USD, nhưng khu vực kinh tế trong nước lại trong tình trạng nhập siêu, đã dẫn đến làm giảm mức suất siêu chung so với năm 2024 (đạt 24,77 tỷ USD). Cấu trúc xuất nhập khẩu hiện nay vẫn bộc lộ những hạn chế mang tính căn cơ, đặc biệt là sự phụ thuộc lớn vào khu vực DN có vốn đầu tư nước ngoài và tỷ lệ giá trị gia tăng nội địa còn thấp. Đây chính là giới hạn của mô hình phát triển nếu hiệu quả lan tỏa sang khu vực DN trong nước không được cải thiện. Hiện tượng thâm hụt thương mại (so với tổng thương mại quốc tế) của của khu vực kinh tế trong nước kéo dài khá nhiều năm (Hình 5).
Xuất nhập khẩu (XNK) khu vực kinh tế trong nước (DN trong nước) thường có nhập siêu đáng kể và kéo dài cho thấy tính chất phụ thuộc phụ thuộc của snr xuất vào nhập khẩu nguyên liệu, máy móc, công nghệ, trong khi tỷ trọng đóng góp vào kim ngạch xuất khẩu chung còn thấp, chủ yếu tập trung ở các khâu giá trị gia tăng thấp, khiến DN nội địa khó cạnh tranh và dễ bị tổn thương trước biến động thị trường, dù có chính sách hỗ trợ nhưng cần nâng cao nội lực và chuyển dịch xanh hơn, trong số đó phải kể đến nhập khẩu từ Trung Quốc chiếm 40,87% tổng kim ngạch nhập khẩu; nhập siêu từ Trung Quốc ở mức 115,6 tỷ USD, tăng 39,6%.
Hình 5: Thặng dư/thâm hụt thương mại Việt Nam giai đoạn 2021-2025
![]() |
| Nguồn: Tính toán từ số liệu Cục Hải quan |
Năm là, tính chất gia công trong ngành công nghiệp chế biến chế tạo còn rất cao.
Theo số liệu của Cục Thống kê, dù tăng trưởng sản xuất công nghiệp và số lượng DN thành lập mới trong năm 2025 khá tốt, nhưng bức tranh giá trị nội địa lại ẩn chứa nhiều rủi ro khiến DN mắc kẹt ở vai trò gia công. Cả nước hiện có gần 7.000 DN công nghiệp hỗ trợ, tập trung chủ yếu ở 5 lĩnh vực chính gồm cơ khí, ô tô, điện - điện tử, dệt may và công nghệ cao, trong số này, gần 300 DN đã tham gia vào chuỗi cung ứng của các DN FDI lớn như: Samsung, Honda, Toyota, LG. Tuy nhiên, tỷ lệ nội địa hóa của nhiều ngành vẫn còn thấp, cao nhất là ngành dệt may - da giày đạt khoảng 45-50%, trong khi đó ngành cơ khí chế tạo 15-20%, lắp ráp ô tô từ 5-20%, chưa đạt mục tiêu tỷ lệ nội địa hoá năm chung năm 2025 là 40%, khó đạt được kỳ vọng 50-60% mà Chính phủ đề ra vào giai đoạn 2026-2030. Phần lớn các sản phẩm có tốc độ tăng trưởng trên 10% năm 2025 đều là các sản phẩm mang tính gia công lắp ráp là chính (ví dụ: lắp ráp tivi: 17,4%, ô tô: 39,1%, dệt may: 13,8%), trong khi đó các sản phẩm sản xuất từ nguồn nguyên liệu trong nước tăng trưởng đều chậm hơn mức bình quân (sản xuất linh kiện: 3,6%, thép cơ khí: 5,3%, xăng dầu: 5,6%, sản phẩm chế biến thực phẩm: 6,5%). Mô hình tăng trưởng nhờ vào gia công hiện nay đã phản ánh: (i) Khả năng cạnh tranh thấp của các DN nội địa về vốn, công nghệ, lao động chất lượng cao và khả năng đổi mới, khiến họ khó vươn lên các khâu có lợi nhuận cao hơn trong chuỗi giá trị toàn cầu và; (ii) DN trong nước không chủ động được tư liệu sản xuất, nguồn nguyên vật liệu, linh kiện, khiến DN khó nâng cấp vị trí trong chuỗi giá trị, bởi các khâu cốt lõi đã bị “khóa chặt” từ bên ngoài, vì rơi vào thế thụ động, với quy trình nhận đơn, sản xuất theo bản vẽ và tiêu chuẩn của đối tác nước ngoài, nên khả năng định giá, thương lượng và quyết định chiến lược thị trường còn hạn chế; (iii) Sự phụ thuộc vào một vài khách hàng lớn khiến rủi ro của DN cao hơn, đơn hàng có thể giảm đột ngột khi khách hàng tái cấu trúc chuỗi cung ứng hoặc chuyển nguồn cung sang nước khác có chi phí thấp hơn, Khả năng mất đơn hàng lớn không chỉ giảm doanh thu mà có thể gây đứt gãy chuỗi cung ứng nội bộ, gây tình trạng tồn kho, phát sinh chi phí.
ĐỊNH HƯỚNG VÀ CÁC GIẢI PHÁP CHO NĂM 2026
Định hướng năm 2026
Định hướng mục tiêu tăng trưởng kinh tế năm 2026, được bài viết dựa trên những căn cứ sau đây:
Thứ nhất, Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội năm 2026
Nghị quyết số 244/2025/QH-15 ngày 13/11/2025 về Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội năm 2026 đã đưa ra các chỉ tiêu chủ yếu phát triển kinh tế - xã hội, theo đó: Tốc độ tăng tổng sản phẩm trong nước (GDP) phấn đấu 10% trở lên, GDP bình quân đầu người đạt khoảng 5400-5500 USD. Tỷ trọng công nghiệp chế biến, chế tạo trong GDP đạt khoảng 24,96%. Tốc độ tăng chỉ số giá tiêu dùng (CPI) bình quân khoảng 4,5%. Tốc độ tăng năng suất lao động xã hội bình quân khoảng 8,5%. Tỷ trọng lao động nông nghiệp trong tổng lao động xã hội đạt 25,3%. Tỷ lệ lao động qua đào tạo có bằng, chứng chỉ đạt khoảng 29,5%. Tỷ lệ thất nghiệp ở khu vực thành thị dưới 4%. Tỷ lệ hộ nghèo (theo chuẩn nghèo đa chiều) giảm 1-1,5 điểm %. Để đạt được mục tiêu trên, Nghị quyết quốc hội đã nêu rõ điêu kiện cần là: Tập trung thực hiện hiệu quả, thực chất cơ cấu lại nền kinh tế gắn với đổi mới mô hình tăng trưởng, tăng cường năng lực nội sinh, nâng cao năng lực cạnh tranh, phát triển nhanh, bền vững; đẩy mạnh phát triển kinh tế số, kinh tế xanh, kinh tế tuần hoàn, thương mại điện tử, các ngành, lĩnh vực mới nổi, các mô hình kinh doanh mới, hiệu quả; Thu hút có chọn lọc các dự án đầu tư nước ngoài, nhất là trong những ngành, lĩnh vực mới nổi gắn kết chặt chẽ với thị trường trong nước và các DN trong nước, tham gia sâu rộng hơn vào các chuỗi giá trị khu vực, toàn cầu
Thứ hai, kết quả khảo sát doanh nghiệp về nhu cầu mở rộng quy mô kinh doanh và tuyển dụng lao động mới
Ngày 05/01/2026, Cục Thống kê thông tin kết quả khảo sát mới nhất cho thấy về cho biết niềm tin của cộng đồng DN đang có sự chuyển biến rõ rệt, hơn 75% số DN đánh giá hoạt động sản xuất kinh doanh trong quý IV/2025 tốt lên và giữ vững ổn định cho những quý tới của năm 2026. Cụ thể: (i) Cải thiện Tình hình Kinh doanh có nhiều cải thiện hơn: đặc biệt ngành xây dựng nhờ đầu tư công và chỉ số cân bằng chung chuyển sang dương; (ii) Lãi suất giảm ở các nước lớn tạo điều kiện tiếp cận vốn dễ hơn, nhưng lãi suất trong nước có thể không trở lại thời kỳ rẻ như trước nhưng DN sẽ dễ vay vốn hơn; (iii) Tín hiệu khả quan về đơn hàng mới và sản lượng, giúp giảm tồn kho; (iv) DN FDI và DN Nhà nước thể hiện sự tự tin cao, DN châu Âu tin tưởng vào Việt Nam. Báo cáo dự báo của VCCI về thị trường lao động cho thấy, nhiều ngành có nhu cầu tuyển dụng quy mô lớn: ngành xây dựng dẫn đầu mức tăng nhu cầu nhân lực 55,1% so với cùng kỳ, đứng sau xây dựng là nhóm pháp luật - pháp lý, với mức tăng gần 50%. Nhóm kinh doanh - bán hàng dẫn đầu với 47,5% DN cho biết có nhu cầu tuyển dụng trong thời gian tới. Về lý do tuyển dụng, đẩy mạnh hoạt động kinh doanh và tăng trưởng thị trường chiếm tỉ trọng cao nhất với 26,5% phản hồi. Nhu cầu nhân sự pháp lý gia tăng phản ánh xu hướng DN chú trọng hơn đến tuân thủ pháp luật, quản trị rủi ro, nhất là trong bối cảnh môi trường kinh doanh liên tục thay đổi về chính sách, thuế quan và thương mại quốc tế. Các lĩnh vực sản xuất (tăng 45,65%) cũng ghi nhận sự phục hồi tích cực, đặc biệt tại các DN xuất khẩu đã có đơn hàng trở lại từ cuối năm 2025.
Đề xuất giải pháp
Dựa trên các căn cứ nói trên, bài viết cho rằng việc Chính phủ yêu cầu các cấp, các ngành, các địa phương tập trung chỉ đạo, điều hành thực hiện mục tiêu tăng trưởng GDP cả nước năm 2026 phấn đấu từ 10% trở lên gắn với giữ vững ổn định kinh tế vĩ mô, kiểm soát lạm phát và bảo đảm các cân đối lớn của nền kinh tế là có căn cứ thực tiễn, xuất phát từ những đánh giá thuận lợi của các DN Việt trong năm 2026, niềm tin của các tổ chức kinh tế, tài chính quốc tế. Con số này là thể hiện sự quyết tâm của cả nước trong việc từng bước thực hiện mục tiêu phát triển kinh tế đến năm 2030 (trở thành nước đang phát triển có thu nhập trung bình cao), tầm nhìn đến 2045 (trở thành nước phát triển có mức thu nhập cao. Tuy vậy, mục tiêu này đạt được kèm theo những giải pháp tích cực, xuất phát từ quan điểm giải quyết các bất cập được xem như là rào cản tăng trưởng năm 2025.
Thứ nhất, giải pháp liên quan đến kích cầu tiêu dùng nội địa.
Những hạn chế kìm hãm tăng trưởng GDP của Việt Năm 2025, chủ yếu tập trung vào các vấn đề của khu vực kinh tế trong nước. Ý kiến của Cục Thống kê sau kết quả thu nhập được từ cuộc khảo sát gần đây liên quan đến “điểm nghẽn” mà cộng đồng DN đang phải đối mặt, đã cho biết rào cản lớn (chiếm 49% ý kiến khảo sát) làm giảm sút tiêu dùng trong nước là nhu cầu thị trường trong nước thấp. Vì thế quan điểm của bài viết cho rằng, giải pháp quan trọng nhất trong năm 2026 để thực hiện tăng trưởng trên 10% phải là thức đẩy kích cầu tiêu cùng trong nước.Về nguyên lý chung Giải pháp kích cầu tiêu dùng trong nước tập trung vào các nhóm chính: Kích thích sức mua (giảm thuế, phí, hỗ trợ thu nhập, ưu đãi tín dụng), Đa dạng hóa kênh phân phối & kết nối cung-cầu (đưa hàng Việt về nông thôn, phát triển sàn TMĐT), Bình ổn thị trường & Đảm bảo chất lượng (kiểm soát giá, xử lý vi phạm), Nâng cao năng lực DN (ứng dụng công nghệ, đa dạng hóa sản phẩm) và Đẩy mạnh xúc tiến thương mại (hội chợ, khuyến mãi) để giữ nhịp thị trường, ổn định sản xuất, phát triển bền vững. Trước mắt, cần tập trung vào: 3 nhóm giải pháp cơ bản: (i) Trước mắt, nghiên cứu đề xuất các chương trình khuyến khích khuyến mại mua hàng; giảm giá để xả hàng tồn kho; chương trình bán hàng bình ổn giá; (ii) Cùng với đó, nghiên cứu, đề xuất các chương trình tín dụng, cho vay tiêu dùng với lãi suất thấp, ưu đãi; (iii) Về dài hạn, Bộ Công Thương cho rằng cần hoàn thiện thể chế, chính sách cải thiện môi trường đầu tư - kinh doanh và cải cách thủ tục hành chính, nâng cao hiệu quả thực thi pháp luật về phát triển thương mại trong nước (các chính sách tập trung vào giảm chi phí đầu vào, chi phí không chính thức cho DN và người dân).
Thứ hai, triển khai hiệu quả các giải pháp thúc đẩy xuất khẩu của khu vực kinh tế trong nước.
Là nền kinh tế có độ mở lớn với nhiều ngành hàng hội nhập từ sớm, các DN đã có thêm khá nhiều kinh nghiệm ứng phó với các giai đoạn khó khăn ở cả bên trong lẫn bên ngoài. Trọng tâm trong thời gian tới là phát huy hiệu quả khu vực FDI song song với việc nâng cao vai trò, vị thế và năng lực cạnh tranh của DN trong nước, qua đó hướng tới cơ cấu xuất nhập khẩu cân bằng, bền vững và có khả năng chống chịu cao hơn trước các biến động bên ngoài. Về phía cơ quan quản lý, Bộ Công Thương sẽ tiếp tục theo dõi sát diễn biến thương mại toàn cầu, hoàn thiện chính sách, đẩy mạnh cảnh báo sớm rủi ro, hỗ trợ DN tận dụng FTA và thích ứng với các yêu cầu mới của thị trường, qua đó góp phần giúp hoạt động xuất nhập khẩu duy trì ổn định và bền vững hơn trong thời gian tới. Các giải pháp tập trung đó là tiếp tục nâng cao năng lực cạnh tranh của DN xuất khẩu trong nước thông qua việc hoàn thiện thể chế, cải cách thủ tục hành chính, đẩy mạnh chuyển đổi số. Tăng cường hỗ trợ DN đáp ứng quy tắc xuất xứ, tiêu chuẩn kỹ thuật để nâng cao tính bền vững và khả năng chống chịu trước biến động thị trường. Cùng với đó là công tác xúc tiến thương mại với phát triển thương hiệu và nâng cao vị thế hàng hóa Việt Nam theo hướng chuyên sâu, có trọng tâm trọng điểm chú trọng kết nối DN Việt Nam với các nhà phân phối lớn, hệ thống bán lẻ quốc tế, đồng thời hỗ trợ DN xây dựng và bảo vệ thương hiệu, nâng cao uy tín và hình ảnh hàng hóa Việt Nam trên thị trường quốc tế.
Thứ ba, tiếp tục tháo gỡ khó khăn cho DN, nhất là khu vực kinh tế tư nhân, bằng cách kịp thời tháo gỡ các khó khăn, vướng mắc DN, hỗ trợ hiệu quả các DN thiếu vốn, giá nguyên liệu đầu vào tăng cao, khó khăn trong tiêu thụ sản phẩm, có giải pháp hỗ trợ một số ngành, lĩnh vực chịu tác động bất lợi do nhu cầu của thị trường thế giới suy giảm như: da giày, dệt may, sản xuất và chế biến gỗ. Đối với khu vực sản xuất trong nước, Chính phủ cần hỗ trợ các lĩnh vực sản xuất có thể chiếm lĩnh được các thị trường nội địa, qua đó thúc đẩy ngành dịch vụ, bán buôn bán lẻ trong nước sôi động hơn. Sự phục hồi của sản xuất mới là động lực chính của tăng trưởng năm 2025 và những năm sắp tới. Tuy vậy, cần lưu ý trong quá trình hỗ trợ DN, phải chú ý đến tình trạng nợ xấu của DN hiện tại quá cao nếu không, nền kinh tế luôn luôn bị đe dọa bởi khủng hoảng nợ và tăng trưởng chậm. Tình trạng giải quyết nợ DN quá cao rất phức tạp vì cách giải quyết nào cũng có cái giá phải trả. Để tránh hiệu ứng xấu, về nguyên lý cũng như theo kinh nghiệm của một số nước thành công, một mặt đẩy mạnh thanh lý/tái cấu trúc nợ xấu DN vừa phải mà nền kinh tế, xã hội có thể chịu được Đồng thời, cần có giải pháp kích cầu và yểm trợ có chọn lọc để đảm bảo tăng trưởng tối thiểu và đối phó với cái giá phải trả là tình trạng này có thể kéo dài thêm
Thứ tư, tăng cường liên kết giữa DN FDI và DN trong nước.
Có thể khẳng định việc khu vực FDI chiếm tỉ trọng lớn trong xuất nhập khẩu vừa là động lực tăng trưởng, vừa là cơ hội để DN trong nước học hỏi, tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị toàn cầu. Các giải pháp liên quan đến tăng cường liên kết khu vực DN trong nước với DN FDI gồm: (i) Hoàn thiện thể chế và chính sách khuyến khích liên kết Cần chuyển trọng tâm chính sách thu hút FDI từ “số lượng” sang “chất lượng”, từ “biệt lập” sang “liên kết gắn với chuyển giao công nghệ”, cần bổ sung các điều khoản trong luật Đầu tư, luật DN các điều khoản khuyến khích, ưu đãi các dự án FDI quy mô lớn, công nghệ cao hợp tác với DN trong nước theo tiêu chí tỷ lệ nội địa hóa; (ii) phát triển hệ sinh thái hỗ trợ công nghiệp trong nước. Các địa phương - đặc biệt là những trung tâm công nghiệp như: Hà Nội, Bắc Ninh, Đồng Nai, Bình Dương - cần xây dựng các trung tâm hỗ trợ công nghiệp hiện đại: tư vấn kỹ thuật, đánh giá năng lực DN, đào tạo tiêu chuẩn ISO, hỗ trợ đổi mới sáng tạo, và xúc tiến hợp tác với các tập đoàn FDI đang hoạt động tại khu vực. Song song đó, hình thành mạng lưới cơ sở dữ liệu số quốc gia về DN công nghiệp hỗ trợ, giúp nhà đầu tư tra cứu, kết nối nhanh chóng, giảm chi phí giao dịch và rủi ro; (iii) Phát huy vai trò chủ động của các hiệp hội và chính quyền địa phương. Các hiệp hội ngành nghề và các tổ chức đại diện cộng đồng DN cần được giao nhiệm vụ và tạo điều kiện để có thể đóng vai trò “nhạc trưởng” trong việc kết nối doanh nghiệ FDI với DN trong nước.
Tài liệu tham khảo:
1. Cục Hải quan Việt Nam (từ 2021-2025). Báo cáo tổng kết hàng năm.
2. Cục Thống kê (2016-2025). Niên giám thống kê, Nxb Thống kê.
3. Cục Thống kê (2026). Báo cáo tình hình kinh tế - xã hội quý IV và cả năm 2025.
4. HSBC (2025). Báo cáo tài chính năm 2025.
5. IMF (2024). Báo cáo triển vọng phát triển kinh tế thế giới 2024.
6. Ngân hàng Phát triển Châu Á (ADB) (2025). Báo cáo Cập nhật Triển vọng phát triển Châu Á (ADB) 2025.
7. Ngân hàng thế giới (WB) (2025). Báo cáo cập nhật khu vực kinh tế châu Á, Thái Bình dương 2025.
8. Quốc hội (2025). Nghị quyết số 244/2025/QH15 ngày 13/11/2025 về Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội năm 2026.
9. Thông tấn Sputnik (tháng 1/2026).
(Bài đăng Tạp chí Kinh tế - Tài chính kỳ 1 tháng 2/2026)












