Chính sách tài khóa hỗ trợ, tạo động lực cho kinh tế phát triển
Chính sách tài khóa hỗ trợ, tạo động lực cho kinh tế phát triển
![]() |
Chính sách tạo đà cho tăng trưởng kinh tế
Chính sách thu đã có những chuyển biến mang tính bước ngoặt, được triển khai cải cách một cách đồng bộ, tiên tiến, hướng tới môi trường kinh doanh bình đẳng, minh bạch, đồng thời đẩy mạnh ứng dụng công nghệ để hỗ trợ doanh nghiệp thực hiện nghĩa vụ thuế.
Luật Quản lý thuế số 108/2025/QH15 được Quốc hội thông qua ngày 10/12/2025 có nhiều điểm mới so với Luật Quản lý thuế trước đó. Luật bổ sung quy định chuyển đổi số, thủ tục hành chính (đăng ký thuế, khai thuế, nộp thuế, hoàn thuế, khoanh tiền thuế nợ, kiểm tra thuế, ấn định thuế…); chỉ rõ đối tượng nộp thuế bao gồm cả tổ chức, cá nhân nước ngoài; phân nhóm người nộp thuế. Theo đó, bắt đầu từ ngày 1/1/2026, gần 2 triệu hộ kinh doanh trên cả nước sẽ chính thức chuyển từ phương thức nộp thuế khoán sang thực hiện kê khai thuế theo doanh thu thực tế. Đây không chỉ là một thay đổi về nghiệp vụ quản lý thuế, mà là dấu mốc chuyển mình trong tư duy hành chính, lấy người nộp thuế làm trung tâm phục vụ.
Luật thuế Tiêu thụ đặc biệt (TTĐB) số 66/2025/QH15 thông qua ngày 14/6/2025 cũng đã được sửa đổi và bổ sung với nhiều nội dung mới, trong đó bổ sung sản phẩm nước giải khát có đường thuộc diện đối tượng chịu thuế với mục tiêu là bảo vệ sức khỏe cộng đồng, điều chỉnh hành vi tiêu dùng. Ngoài ra, Luật thuế TTĐB 2025 quy định 3 phương pháp tính thuế với các căn cứ tính mới như phương pháp tính thuế tuyệt đối và phương pháp tính thuế hỗn hợp. Theo đó, tăng mức thuế tuyệt đối với sản phẩm thuốc lá điếu qua từng năm.
Luật thuế Thu nhập doanh nghiệp (TNDN) số 67/2025/QH15 thông qua ngày 14/6/2025 của Quốc hội đã có những cải cách quan trọng góp phần bắt kịp với xu hướng toàn cầu và giải quyết những vướng mắc phát sinh trong thực tiễn. Theo đó, doanh nghiệp kinh doanh thương mại điện tử và trên nền tảng số phải nộp thuế đối với thu nhập phát sinh tại Việt Nam trên nguyên tắc xác định thu nhập chịu thuế là thu nhập có nguồn gốc từ Việt Nam, không phụ thuộc vào địa điểm kinh doanh. Luật tiếp tục dành ưu đãi về thuế suất cho các doanh nghiệp nhỏ và vừa (DNNVV): 15% áp dụng cho doanh nghiệp có tổng doanh thu không quá 3 tỷ đồng/năm; 17% áp dụng cho doanh nghiệp có tổng doanh thu năm trên 3 tỷ đến không quá 50 tỷ đồng…
Ngoài ra, các quy định về ưu đãi thuế được rà soát, sửa đổi toàn diện hơn nhằm thích ứng với xu hướng quốc tế cũng như điều kiện trong nước. Cụ thể, rút ngắn thời gian miễn thuế đối với thu nhập từ bán sản phẩm công nghệ mới từ 5 năm xuống còn tối đa 3 năm kể từ ngày có doanh thu; bổ sung đối tượng ưu đãi với dự án đầu tư đặc biệt; đầu tư kinh doanh cơ sở kỹ thuật hỗ trợ DNNVV; đầu tư kinh doanh khu làm việc chung hỗ trợ DNNVV khởi nghiệp sáng tạo; ngành dịch vụ công nghệ số, an toàn thông tin mạng, chíp bán dẫn, trung tâm dữ liệu và trí tuệ nhân tạo… Luật thuế TNDN cho phép doanh nghiệp kinh doanh chuyển nhượng bất động sản được bù trừ lỗ với thu nhập chịu thuế từ các hoạt động sản xuất, kinh doanh (SXKD) khác, nhưng không bù trừ đối với thu nhập của hoạt động SXKD đang hưởng ưu đãi thuế. Đồng thời, thu nhập từ chuyển nhượng dự án và quyền thăm dò, khai thác, chế biến khoáng sản phải xác định riêng để kê khai, không được bù trừ lỗ, lãi với hoạt động SXKD trong kỳ tính thuế.
Luật thuế TNCN số 109/2025/QH15 ngày 10/12/2025 của Quốc hội có nhiều điều chỉnh quan trọng theo hướng giảm gánh nặng thuế cho người nộp thuế bằng cách nâng mức giảm trừ gia cảnh cho cá nhân người nộp thuế và người phụ thuộc từ ngày 1/7/2026. Đồng thời, biểu thuế lũy tiến từng phần được rút gọn từ 7 xuống 5 bậc, với khoảng cách giữa các bậc thuế được giãn rộng hơn, góp phần điều tiết thu nhập hợp lý hơn trong bối cảnh kinh tế mới. Bên cạnh đó, ngưỡng doanh thu không phải nộp thuế của hộ, cá nhân kinh doanh được điều chỉnh tăng đáng kể, qua đó hỗ trợ khu vực kinh tế cá thể và hộ kinh doanh.
Không chỉ vậy, chính sách hỗ trợ, miễn giảm, gia hạn thuế, phí tiếp tục được tăng cường, như: việc ban hành, thực hiện các giải pháp về miễn, giảm và gia hạn thuế, phí áp dụng cho năm 2025, năm 2026 đã nhận được sự đồng tình, ủng hộ và đánh giá cao của cộng đồng doanh nghiệp, người dân; góp phần hỗ trợ doanh nghiệp, người dân vượt qua khó khăn, ổn định hoạt động SXKD để đóng góp vào kết quả tích cực về phát triển kinh tế - xã hội. Quy mô hỗ trợ thuế, phí, lệ phí năm 2025 khoảng 241.740 tỷ đồng và năm 2026 khoảng 164.799 tỷ đồng. Cụ thể:
Tiếp tục giảm 2% thuế suất thuế GTGT trong suốt năm 2025, áp dụng trong 6 tháng đầu năm theo Nghị quyết số 174/2024/QH15 ngày 30/11/2024 và Nghị định số 180/2024/NĐ-CP ngày 31/12/2024 và tiếp tục trong 6 tháng cuối năm theo Nghị quyết số 204/2025/QH15 ngày 17/6/2025. Bên cạnh đó, mức thuế bảo vệ môi trường đối với xăng, dầu, mỡ nhờn tiếp tục giảm từ ngày 1/1/2025 đến hết ngày 31/12/2025 theo mức áp dụng trong năm 2024 (Nghị quyết số 60/2024/UBTVQH15); và tiếp tục giảm mức thuế bảo vệ môi trường đối với xăng, dầu, mỡ nhờn trong năm 2026 (Nghị quyết số 109/2025/UBTVQH15 ngày 17/10/2025). Từ ngày 1/1/2027, quay trở lại mức thuế bảo vệ môi trường cũ theo Nghị quyết 579/2018/UBTVQH14.
Ngoài ra, chính sách giảm 10% - 50% mức thu phí, lệ phí được áp dụng đến hết năm 2025 theo Thông tư số 63/2023/TT-BTC ngày 16/10/2023 nhằm khuyến khích sử dụng dịch vụ công trực tuyến…
Ưu đãi lệ phí trước bạ đối với ô tô điện chạy pin theo Nghị định số 51/2025/NĐ-CP ngày 1/3/2025 (sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 10/2022/NĐ-CP) dự kiến hỗ trợ doanh nghiệp và người dân khoảng 2.400 tỷ đồng/năm.
Gia hạn thời hạn nộp thuế TTĐB đối với xe ô tô sản xuất, lắp ráp trong nước theo Nghị định số 81/2025/NĐ-CP ngày 2/4/2025; đồng thời, thời hạn nộp thuế giá trị gia tăng (GTGT), thuế TNDN, thuế TNCN và tiền thuê đất trong năm 2025 được gia hạn theo Nghị định số 82/2025/ NĐ-CP ngày 2/4/2025. Bên cạnh đó, Nghị định số 230/2025/NĐ-CP ngày 19/8/2025 quy định bổ sung các trường hợp được miễn, giảm tiền sử dụng đất, tiền thuê đất. Ngoài ra, Quốc hội đã thông qua Nghị quyết số 216/2025/QH15 ngày 26/6/2025 về việc kéo dài thời hạn miễn thuế sử dụng đất nông nghiệp, áp dụng từ ngày 1/1/2026 đến hết ngày 31/12/2030.
|
| Ngày 26/09/2025 - Tập đoàn Vingroup chính thức khởi công Dự án đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng Khu Công nghiệp Tân Trào (giai đoạn 1) cùng dự án Nhà máy Nhiệt điện LNG Hải Phòng có công suất lớn nhất Việt Nam và hàng đầu thế giới. |
Chính sách chi hỗ trợ cho kinh tế phát triển
Luật NSNN năm 2025 (có hiệu lực từ ngày 1/1/2026) đã bám sát, hóa các chủ trương, định hướng lớn của Đảng, Nhà nước về ngân sách gắn với sắp xếp tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị; đổi mới cơ chế phân cấp quản lý, phân bổ NSNN để đảm bảo vai trò chủ đạo của ngân sách trung ương và chủ động của ngân sách địa phương đảm bảo sử dụng hiệu quả nguồn lực công.
Các nghị định hướng dẫn Luật Đầu tư công 2024 được hoàn thiện nhằm nâng cao hiệu quả đầu tư công, bao gồm: Nghị định số 85/2025/ NĐ-CP có hiệu lực từ ngày 8/04/2025; Nghị định 275/2025/NĐ-CP sửa đổi Nghị định 85/2025/NĐCP hướng dẫn thi hành Luật Đầu tư công (có hiệu lực từ 18/10/2025); Nghị định số 254/2025/ NĐ-CP quy định về quản lý, thanh toán, quyết toán dự án sử dụng vốn đầu tư công (có hiệu lực từ 26/9/2025). Cơ cấu vốn đầu tư đã tập trung vào các công trình, dự án quan trọng, trọng điểm cấp thiết, tăng cường kiểm soát việc lập, thẩm định phê duyệt dự án đầu tư theo kế hoạch đầu tư công trung hạn và hàng năm; thực hiện rà soát, điều chuyển vốn đầu tư từ NSNN, trái phiếu chính phủ nhằm tập trung vốn để đẩy nhanh tiến độ các dự án, công trình cấp thiết, có hiệu quả cũng như các công trình dự án, trọng điểm ưu tiên đầu tư tạo động lực phát triển kinh tế. Cùng với đó, Luật số 90/2025/QH15 ngày 25/6/2025 của Quốc hội về sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Đấu thầu, Luật Đầu tư theo phương thức đối tác công tư… đã giải quyết điểm nghẽn trong huy động nguồn lực ngoài ngân sách cho cơ sở hạ tầng.
Với việc triển khai tập trung đầu tư vào các hạng mục giải phóng mặt bằng, hạ tầng kết nối và các phần việc có mức độ rủi ro cao, qua đó chia sẻ rủi ro với khu vực tư nhân và nâng cao tính khả thi tài chính của dự án, nhiều dự án PPP quy mô lớn đã thu hút được sự tham gia của doanh nghiệp trong nước và quốc tế, góp phần bổ sung nguồn vốn cho đầu tư phát triển, giảm áp lực lên ngân sách, đồng thời tạo hiệu ứng lan tỏa tích cực đối với tăng trưởng kinh tế và chuyển dịch cơ cấu theo hướng hiện đại, bền vững. Nhờ đó, trong thực tiễn, hàng loạt dự án quy mô lớn đã được khởi công, khánh thành và đưa vào khai thác trong thời gian gần đây như mở rộng như các đoạn tuyến thuộc hệ thống cao tốc Bắc - Nam và các cảng biển lớn như Lạch Huyện, Cái Mép - Thị Vải, Sông Hậu được nâng công suất năm 2025.
Đặc biệt, ngày 19/12/2025, 234 dự án hạ tầng trọng điểm với tổng vốn hơn 3,4 triệu tỷ đồng được khởi công, khánh thành và thông xe kỹ thuật trên toàn quốc, trong đó có khu đô thị thể thao Olympic tại Hà Nội cùng các dự án đường sắt, đường bộ, khu công nghiệp và bệnh viện lớn, tạo nền tảng kết nối vùng, giảm chi phí logistics và nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia.
Quản lý nợ công hướng tới đảm bảo an ninh tài chính, hỗ trợ tăng trưởng
Luật Quản lý nợ công số 141/2025/QH15 ngày 10/12/2025 của Quốc hội, có hiệu lực từ ngày 1/1/2026 đã có nhiều sửa đổi, bổ sung quan trọng so với Luật Quản lý nợ công số 29/2009/QH12. Cụ thể, Luật đã bổ sung thẩm quyền của Chính phủ quyết định điều hành linh hoạt khi hạn mức bảo lãnh Chính phủ có thể vượt tăng trưởng GDP năm trước; giao Chính phủ quy định chi tiết quy trình lập, phê duyệt và công bố kế hoạch vay, trả nợ công hàng năm. Luật cắt giảm một số thủ tục, đơn giản hóa nội dung đề xuất khoản vay, rút gọn một bước thẩm tra và thẩm định của Bộ Ngoại giao và Bộ Tư pháp đồng thời với việc xin ý kiến các bộ, ngành liên quan. Luật cho phép các doanh nghiệp Nhà nước (có vốn Nhà nước trên 50%) được trực tiếp đề xuất khoản vay ODA và vay ưu đãi nước ngoài.
Luật bổ sung các ngân hàng thương mại bên cạnh ngân hàng chính sách nhằm bãi bỏ cơ chế độc quyền cho vay lại các đơn vị sự nghiệp công lập và tăng cường cơ chế cạnh tranh lành mạnh khi thẩm định vay lại, đảm bảo uy tín, chuyên nghiệp hơn. Luật làm rõ các khái niệm về điều ước quốc tế, thỏa thuận vay, hạn mức bảo lãnh để tránh chồng chéo với Luật Điều ước quốc tế. Bộ Tài chính xây dựng cơ sở dữ liệu nợ công thống nhất, ứng dụng mạnh mẽ khoa học & công nghệ và chuyển đổi số, và thực hiện báo cáo hàng thàng về nợ công.
|
Luật Quản lý nợ công sửa đổi 2025 dự kiến mang lại hiệu quả cao nhờ việc tăng cường phân cấp, phân quyền, cắt giảm thủ tục hành chính, tạo cơ chế linh hoạt hơn, giảm tải cho cấp trung ương, đồng thời giải quyết vấn đề cấp bách trong quản lý nợ, đặc biệt là tăng tính chủ động cho địa phương, nâng cao hiệu quả sử dụng vốn ODA/vay ưu đãi và bảo lãnh Chính phủ, hướng tới quản lý nợ công an toàn, hiệu quả hơn.
Một số khuyến nghị hoàn thiện chính sách tài chính tạo động lực cho phát triển kinh tế
Về chính sách thu
Việc xây dựng chính sách thuế, phí, lệ phí cần tiếp tục bảo đảm bám sát chủ trương, định hướng lớn của Đảng, Nhà nước, đồng thời phải dựa trên cơ sở phân tích đầy đủ, khoa học về thực tiễn, nhu cầu của xã hội và khả năng đáp ứng của ngân sách. Cùng đó, chính sách thu cần đảm bảo tính ổn định và tập trung vào việc nuôi dưỡng nguồn thu và bao quát được các lĩnh vực mới. Việc đánh giá hiệu quả thực thi chính sách cần được tiến hành thường xuyên để kịp thời có các kiến nghị sửa đổi, bổ sung phù hợp, gắn kết chặt chẽ giữa công tác nghiên cứu, xây dựng và triển khai chính sách với theo dõi, giám sát và phản hồi chính sách.
Về chính sách chi
Tiếp tục thực hiện cơ cấu chi ngân sách theo hướng tập trung, trọng tâm, trọng điểm, gắn chi tiêu với kết quả, hiệu quả thực hiện thực hiện mục tiêu phát triển kinh tế.
Nâng cao hiệu quả đầu tư công, đóng vai trò dẫn dắt và kích hoạt đầu tư xã hội. Bố trí nguồn lực của NSNN cả trung ương và địa phương thực hiện đầu tư xây dựng, hoàn thiện các cơ sở hạ tầng, công trình trọng điểm quốc gia (đầu tư đường sắt tốc độ cao trên trục Bắc - Nam, các tuyến đường sắt kết nối Việt Nam - Trung Quốc, các hạ tầng giao thông đường bộ, hàng không…).
Đẩy nhanh công tác chuẩn bị thực hiện dự án, lựa chọn nhà thầu theo đúng quy định của pháp luật. Tăng cường công tác kiểm tra, giám sát; kịp thời tháo gỡ khó khăn, vướng mắc trong giải ngân đầu tư công, đặc biệt là các vướng mắc về đất đai và giải phóng mặt bằng. Đảm bảo nguồn cung ứng nguyên vật liệu cho các dự án đầu tư công.
Tiếp tục rà soát, sửa đổi Luật Đầu tư công và các văn bản quy định chi tiết để khơi thông, đảm bảo căn cứ về nguồn vốn thực hiện các dự án đặc biệt, nhất là các dự án KHCN, ĐMST đòi hỏi phải có cơ chế phê duyệt và triển khai nhanh chóng. Đảm bảo mức chi 3% ngân sách cho khoa học & công nghệ và đổi mới sáng tạo như mục tiêu đã đề ra, đồng thời chú trọng chi an sinh xã hội để củng cố sức mua nội địa, tạo nền tảng cho tăng trưởng dài hạn.
Về quản lý nợ công
Tiếp tục cải thiện các chỉ số tài khóa để nâng mức xếp hạng tín nhiệm quốc gia. Đa dạng hóa nguồn vốn, trong đó cần lấy thị trường nội địa làm gốc để hạn chế rủi ro tỷ giá và biến động từ thị trường tài chính quốc tế. Mặt khác, việc đa dạng hóa nguồn vốn cũng cần gắn với các cam kết bền vững (trái phiếu xanh).
Tiếp tục kiểm soát chặt chẽ các nghĩa vụ nợ dự phòng và nợ nước ngoài, bao gồm quản lý hiệu quả các khoản bảo lãnh Chính phủ, giám sát nợ nước ngoài tự vay, tự trả của doanh nghiệp và tổ chức tín dụng; từng bước hoàn thiện quản trị rủi ro nợ phù hợp với đặc điểm kỳ hạn và mức độ rủi ro của từng nhóm đối tượng vay.
Nâng cao minh bạch và năng lực giám sát nợ công, thông qua hoàn thiện hệ thống cơ sở dữ liệu tài chính - ngân sách - nợ công theo chuẩn mực quốc tế, tăng cường công khai thông tin và sử dụng dữ liệu làm nền tảng cho xây dựng kế hoạch vay, trả nợ công bền vững trong trung và dài hạn.












