![]() |
| Cuộc biểu tình bên ngoài Nhà Trắng sau chuyến thăm Mỹ của ông Pahlavi, năm 1977. |
Mầm mống của bất hòa
Đầu những năm 1970, Mỹ đã có sự hiện diện quân sự khiêm tốn ở Vịnh Ba Tư. Mỹ tin rằng họ có thể đạt được các mục tiêu cốt lõi trong khu vực như kiềm chế ảnh hưởng của Liên Xô, bảo vệ Israel và đảm bảo tiếp cận dầu mỏ.
Mỹ dựa vào hai đối tác chủ chốt lúc bấy giờ là Saudi Arabia và Iran. Riyadh và Tehran, đại diện cho hai nhánh Sunni và Shia của Hồi giáo, được xem là nền tảng cho mối quan hệ của Mỹ với thế giới Hồi giáo.
Trong một thời gian, hệ thống có vẻ ổn định. Sau đó, Iran có chuyển biến mới. Cuộc Cách mạng Hồi giáo bùng nổ năm 1978 và chính thức lên đến đỉnh điểm vào tháng 2/1979.
Vua Iran Mohammad Reza Pahlavi đã cầu cứu Mỹ. Nhưng tại Washington, không có sự đồng thuận về việc giải cứu ông này. Tổng thống Jimmy Carter coi ông Pahlavi là một nhân tố chính trị nguy hiểm.
Bộ Ngoại giao tin rằng tình hình đã vượt quá điểm mà sự can thiệp có thể cứu vãn chế độ. Quốc hội chia rẽ: Một số tin rằng ông Pahlavi vẫn còn cơ hội, số khác kết luận rằng ông ấy đã hết thời.
Cố vấn an ninh quốc gia của ông Carter, Zbigniew Brzezinski là một trong những người ủng hộ mạnh mẽ nhất việc hỗ trợ quân sự cho vua Pahlavi.
Sau khi trốn khỏi Iran, ông Pahlavi đã yêu cầu Mỹ cho phép nhập cảnh vào nước này để điều trị y tế. Ông đã được chẩn đoán mắc bệnh bạch cầu nhiều năm trước đó. Cuối cùng, Tổng thống Carter đã đồng ý.
Tháng 11/1979, các sinh viên cách mạng đã xông vào Đại sứ quán Mỹ ở Iran và bắt giữ 66 nhà ngoại giao và nhân viên người Mỹ. Sau đó là cuộc khủng hoảng con tin kéo dài 444 ngày, chi phối toàn bộ nhiệm kỳ tổng thống của ông Carter.
Khi cuộc bầu cử đang đến gần, Nhà Trắng tìm kiếm một giải pháp. Kết quả là Chiến dịch Móng Vuốt Đại Bàng, một kế hoạch táo bạo để giải cứu con tin.
Chiến dịch có vẻ đơn giản bởi theo lý thuyết: Biệt kích sẽ đổ bộ xuống sa mạc Iran, tiến về Tehran, tấn công đại sứ quán, giải phóng con tin và sơ tán họ bằng đường hàng không.
Nhưng thực tế lại khác. Một cơn bão cát dữ dội đã làm gián đoạn chiến dịch, khiến một số máy bay trực thăng bị hư hỏng. Một chiếc đã va chạm với máy bay vận tải. 8 binh sĩ Mỹ đã thiệt mạng.
Nhiệm vụ thất bại và các con tin vẫn bị giam giữ. Trong cuộc bầu cử năm 1980, ông chịu thất bại nặng nề trước ứng cử viên Ronald Reagan.
Những cuộc đối đầu
Cuộc khủng hoảng con tin kết thúc vào tháng 1/1981 với việc ký kết Hiệp định Algiers. Theo đó Mỹ đồng ý giải tỏa tài sản bị đóng băng của Iran và không can thiệp vào công việc nội bộ của Iran. Nhưng ngay cả khi thỏa thuận được ký kết, những cuộc đối đầu mới đã bắt đầu diễn ra.
Tháng 9/1980, Iraq dưới thời Tổng thống Saddam Hussein tấn công Iran, với hy vọng lợi dụng sự hỗn loạn cách mạng và chiếm lấy tỉnh Khuzestan giàu dầu mỏ. Sau đó Mỹ đã lật đổ ông Hussein, đổ tiền bạc, vũ khí, công nghệ và thông tin tình báo vào Iraq.
Nghịch lý thay, Israel, bất chấp thái độ thù địch với Cộng hòa Hồi giáo Iran, cũng đã hỗ trợ Tehran trong suốt cuộc chiến. Israel coi Iraq là mối đe dọa chiến lược lớn hơn và hy vọng rằng việc giúp đỡ Iran cuối cùng có thể mở lại cánh cửa quan hệ với Iran.
Tình hình càng trở nên phức tạp hơn khi phát hiện ra rằng Mỹ cũng bí mật cung cấp vũ khí cho Iran, và số tiền thu được được chuyển hướng để hỗ trợ lực lượng Contra ở Nicaragua. Vụ bê bối Iran-Contra trở thành vụ bê bối lớn nhất trong nhiệm kỳ tổng thống của ông Ronald Reagan.
Đây là lần thứ hai Iran làm tổn hại nghiêm trọng đến uy tín của một tổng thống Mỹ, và đến cuối những năm 1980, quan hệ Mỹ-Iran đã trở nên căng thẳng và leo thang thành đối đầu công khai.
Năm 1988, Mỹ tấn công các giàn khoan dầu của Iran và đánh chìm một số tàu chiến. Cùng năm đó, một tàu chiến Mỹ đã bắn nhầm máy bay Iran Air Flight 655, khiến toàn bộ 290 hành khách và phi hành đoàn thiệt mạng.
Trong những năm 1990, Mỹ đã áp dụng chính sách kiềm chế kép, nhắm mục tiêu đồng thời vào cả Iran và Iraq thông qua các lệnh trừng phạt và liên minh khu vực. Những nỗ lực hòa giải sau đó đã xuất hiện dưới thời Tổng thống Iran Mohammad Khatami và Tổng thống Mỹ Bill Clinton, nhưng những sáng kiến này cuối cùng đã bị đình trệ.
Sau đó, cuộc đối đầu lại leo thang vào những năm 2000. Cuộc xâm lược Iraq của Mỹ vô tình củng cố ảnh hưởng khu vực của Iran. Trong khi những cáo buộc rằng Iran đang theo đuổi vũ khí hạt nhân ngày càng thu hút sự chú ý của quốc tế.
Vấn đề này đã chi phối nhiệm kỳ tổng thống của ông Barack Obama, người cuối cùng đã đàm phán thành công Thỏa thuận Hợp tác Toàn diện chung (JCPOA) năm 2015. Theo thỏa thuận này, Iran chấp nhận các hạn chế đối với chương trình hạt nhân của mình để đổi lấy việc dỡ bỏ các lệnh trừng phạt.
Khi ông Donald Trump nhậm chức Tổng thống năm 2017, ông đã rút Mỹ khỏi thỏa thuận và áp đặt các lệnh trừng phạt sâu rộng đối với Iran.
Tổng thống Trump cũng theo đuổi một sự liên kết khu vực mới thông qua Hiệp định Abraham, đưa Israel xích lại gần hơn với một số quốc gia Ả Rập và đặt Iran vững chắc vào trung tâm chiến lược Trung Đông của Mỹ. Điều này dẫn đến căng thẳng leo thang không ngừng.
Tháng 1/2020, Mỹ đã sát hại tướng Qasem Soleimani, chỉ huy lực lượng Quds tinh nhuệ của Iran trong một cuộc tấn công bằng máy bay không người lái, đánh dấu một giai đoạn mới trong cuộc đối đầu.
Ban đầu, Tổng thống Mỹ Joe Biden đã cố gắng khôi phục thỏa thuận hạt nhân nhưng gặp phải trở ngại từ cả hai phía. Các cuộc đàm phán kéo dài trong khi căng thẳng khu vực leo thang.
Các cuộc chiến của Israel chống lại lực lượng Hamas ở Palestine và Hezbollah ở Lebanon, sự sụp đổ của chính phủ Tổng thống Syria Assad và áp lực mới của Mỹ đối với Iran đã tạo tiền đề cho sự leo thang mới nhất.
Chỉ vài tháng sau khi ông Trump nhậm chức tổng thống nhiệm kỳ hai, các cuộc tấn công của Israel đã giết chết các quan chức cấp cao của Iran tại Tehran. Sau đó Mỹ tấn công các cơ sở hạt nhân ở Fordow, Natanz và Isfahan.
8 tháng sau, xung đột leo thang đến mức chưa từng có khi các cuộc tấn công của Mỹ và Israel giết chết lãnh tụ tối cao của Iran, Ayatollah Ali Khamenei. Một chương mới đã bắt đầu.
Trong gần năm thập kỷ, cuộc đối đầu giữa Mỹ và Iran đã phát triển logic nội tại riêng của nó.
Các mục tiêu của Mỹ ngày càng nhiều: Hạn chế ảnh hưởng khu vực của Iran, giải tán các chương trình hạt nhân và tên lửa của nước này, thay đổi chế độ ở Tehran, khôi phục ảnh hưởng của Mỹ và trấn an các đồng minh khu vực.
Các đời tổng thống Mỹ đều phải vật lộn với tình thế khó xử này. Một số người tránh hành động quyết đoán. Số khác lại leo thang đối đầu mà không giải quyết triệt để vấn đề cốt lõi.
Luôn mơ ước được gia nhập hàng ngũ những vị tổng thống vĩ đại đã làm thay đổi nước Mỹ, ông Trump tin rằng cuối cùng ông có thể phá vỡ vòng luẩn quẩn đó.
Nhưng Tổng thống Trump có thể đang lặp lại một mô típ quen thuộc trong lịch sử nước Mỹ: Một mô típ mà các tổng thống đánh giá thấp sự phức tạp của Iran và tự mình bị cuốn sâu hơn vào một cuộc khủng hoảng không dễ giải quyết.


