Chi tiết tin tức
A- A A+ | Tăng tương phản Giảm tương phản

Đề xuất quy định mới về thanh tra, kiểm tra lĩnh vực tài sản mã hóa để chống rửa tiền

Theo Thống đốc Phạm Đức Ấn, sửa luật lần này đã quy định 15 dấu hiệu "đáng ngờ" trong lĩnh vực tài sản mã hóa; trách nhiệm về triển khai các biện pháp phòng, chống rửa tiền, thanh tra, kiểm tra, giám sát đối với đối tượng báo cáo.

 

Sáng 14/7, Ủy ban Thường vụ Quốc hội cho ý kiến về dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, Luật Phòng, chống rửa tiền và Luật Các tổ chức tín dụng.

Trình bày tờ trình của Chính phủ, Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Phạm Đức Ấn cho biết, dự luật đã sửa đổi, bổ sung các quy định bảo đảm kịp thời, chặt chẽ, không để xảy ra tiêu cực, thoát, lãng phí và vi phạm pháp luật, tập trung giải quyết các khó khăn, vướng mắc đã được ghi nhận trên thực tế; cụ thể hóa các chuẩn mực quốc tế về phòng, chống rửa tiền.

Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Phạm Đức Ấn. Ảnh: quochoi.vn

Về phòng, chống rửa tiền, theo Thống đốc Phạm Đức Ấn, dự thảo luật đã bổ sung “dịch vụ tài sản mã hóa” là đối tượng báo cáo.

Các dấu hiệu đáng ngờ trong lĩnh vực tài sản mã hóa; trách nhiệm về triển khai các biện pháp phòng, chống rửa tiền, thanh tra, kiểm tra, giám sát đối với đối tượng báo cáo thuộc lĩnh vực tài sản mã hóa của Bộ Tài chính cũng được quy định trong dự thảo luật.

Theo đó, dự thảo luật quy định 15 dấu hiệu đáng ngờ trong lĩnh vực tài sản mã hóa.

- Chia nhỏ giao dịch tài sản mã hóa thành nhiều khoản có giá trị thấp hơn mức quy định về nhận biết khách hàng hoặc về báo cáo theo quy định; hoặc thực hiện nhiều giao dịch giá trị lớn trong thời gian ngắn mà không có mục đích kinh doanh rõ ràng.

- Nạp, giao dịch và rút tài sản mã hóa liên tiếp trong thời gian rất ngắn ngay sau khi thiết lập quan hệ khách hàng, không phù hợp với hồ sơ và đặc điểm của khách hàng; hoặc thực hiện giao dịch tới, từ tài khoản mới mở hoặc tài khoản đã không hoạt động trong thời gian dài.

- Chuyển ngay tài sản mã hóa tới nhiều nhà cung cấp dịch vụ tài sản mã hóa tại các quốc gia, vùng lãnh thổ có rủi ro cao về rửa tiền, tài trợ khủng bố hoặc có khuôn khổ phòng, chống rửa tiền yếu kém, trong khi không có mối liên hệ hợp lý với nơi cư trú hoặc địa điểm hoạt động của khách hàng.

- Chuyển đổi tài sản mã hóa sang nhiều loại tài sản mã hóa khác nhau hoặc sang tiền pháp định trong điều kiện bất lợi về giá, chấp nhận thua lỗ hoặc chịu mức phí giao dịch cao bất thường so với mặt bằng thị trường mà không có lý do kinh doanh hợp lý.

- Nhiều tài khoản hoặc nhiều ví không có mối liên hệ rõ ràng cùng chuyển tài sản mã hóa về một địa chỉ ví duy nhất hoặc tới cùng một nhà cung cấp dịch vụ tài sản mã hóa; hoặc một tài khoản chuyển tài sản mã hóa tới nhiều ví khác nhau với giá trị tương đương nhau liên tiếp trong thời gian ngắn.

- Sử dụng tài sản mã hóa có tính năng tăng cường ẩn danh, dịch vụ trộn giao dịch hoặc thực hiện nhiều lần chuyển đổi qua các loại tài sản mã hóa khác nhau nhằm che giấu nguồn gốc, đường đi của tài sản hoặc làm gián đoạn khả năng truy vết giao dịch.

- Giao dịch tài sản mã hóa từ các địa chỉ ví hoặc các nhà cung cấp dịch vụ tài sản mã hóa đã được cơ quan có thẩm quyền xác định hoặc cảnh báo có liên quan đến hoạt động phạm tội, chợ đen, tống tiền, lừa đảo, cờ bạc trực tuyến bất hợp pháp hoặc tài sản bị đánh cắp.

- Khách hàng truy cập nền tảng của nhà cung cấp dịch vụ tài sản mã hóa qua các công cụ cho phép ẩn danh danh tính hoặc ẩn danh địa chỉ giao thức Internet; hoặc sử dụng nhiều địa chỉ giao thức Internet khác nhau, không nhất quán với thông tin địa lý trong hồ sơ khách hàng đã được xác minh; hoặc nhiều ví tài sản mã hóa đứng tên các danh tính khác nhau nhưng có dấu hiệu được vận hành từ cùng một thiết bị hoặc địa chỉ giao thức Internet.

- Khách hàng từ chối, trì hoãn cung cấp tài liệu nhận biết khách hàng, thông tin về nguồn gốc tài sản; cung cấp tài liệu có dấu hiệu giả mạo hoặc thông tin không nhất quán; hoặc không thể giải thích hợp lý về giao dịch, nguồn gốc tài sản và mối quan hệ với bên đối tác.

- Địa chỉ ví tài sản mã hóa của khách hàng xuất hiện trên các nguồn thông tin công khai có liên quan đến hoạt động bất hợp pháp; hoặc tài sản mã hóa nạp, rút có lịch sử qua các cầu nối liên chuỗi được đánh giá có rủi ro cao.

- Khách hàng có dấu hiệu đứng tên hộ, bị lợi dụng làm trung gian hoặc là nạn nhân của lừa đảo, bao gồm trường hợp khách hàng có hiểu biết hạn chế về tài sản mã hóa nhưng thực hiện giao dịch với tần suất và giá trị lớn không tương xứng với hồ sơ tài chính cá nhân; hoặc thực hiện giao dịch theo chỉ dẫn của bên thứ ba.

- Nguồn tài sản của khách hàng chủ yếu hình thành từ tài sản mã hóa, từ các đợt phát hành tài sản mã hóa lần đầu thiếu minh bạch hoặc có dấu hiệu gian lận; hoặc tài sản mã hóa của khách hàng có nguồn gốc trực tiếp từ các dịch vụ trộn giao dịch hoặc từ các nhà cung cấp dịch vụ tài sản mã hóa thiếu kiểm soát về phòng, chống rửa tiền.

- Giao dịch với nhà cung cấp dịch vụ tài sản mã hóa chưa được đăng ký, cấp phép hoạt động; hoặc giao dịch liên quan đến quốc gia, vùng lãnh thổ có khuôn khổ phòng, chống rửa tiền yếu kém hoặc thuộc danh sách giám sát tăng cường theo công bố của các tổ chức phòng, chống rửa tiền quốc tế.

- Nội dung ghi chú kèm theo giao dịch tài sản mã hóa có dấu hiệu liên quan đến hoạt động bất hợp pháp; hoặc khách hàng thường xuyên thay đổi các thông tin nhận dạng và xác thực quan trọng không phù hợp với hành vi sử dụng thông thường; hoặc nhiều lần cố gắng truy cập nền tảng của nhà cung cấp dịch vụ tài sản mã hóa từ các địa chỉ giao thức Internet khác nhau.

- Khách hàng sử dụng sàn giao dịch tài sản mã hóa hoặc nền tảng giao dịch ở các quốc gia, vùng lãnh thổ đã được cơ quan chức năng Việt Nam và các nước trên thế giới xác định là điểm nóng về tội phạm lừa đảo xuyên quốc gia.

Chủ nhiệm Ủy ban Kinh tế và Tài chính Phan Văn Mãi. Ảnh: quochoi.vn

Dự thảo luật quy định Thanh tra Chính phủ có trách nhiệm thanh tra hoạt động phòng, chống rửa tiền đối với đối tượng báo cáo thuộc lĩnh vực quản lý nhà nước của các Bộ không có Thanh tra Bộ, trong đó có căn cứ vào kết quả đánh giá rủi ro quốc gia về rửa tiền, kết quả đánh giá rủi ro về rửa tiền của đối tượng báo cáo đó.

Đáng chú ý, dự thảo luật quy định Bộ Tài chính có trách nhiệm thanh tra hoạt động phòng, chống rửa tiền đối với đối tượng báo cáo thuộc lĩnh vực chứng khoán, tài sản mã hóa.

Bộ này dự kiến cũng được giao kiểm tra, giám sát hoạt động phòng, chống rửa tiền đối với đối tượng báo cáo thuộc lĩnh vực kinh doanh bảo hiểm nhân thọ, chứng khoán, tài sản mã hóa, dịch vụ kế toán, trò chơi điện tử có thưởng, casino, xổ số, đặt cược và dịch vụ khác thuộc phạm vi quản lý nhà nước của Bộ.

Nêu quan điểm của cơ quan thẩm tra, Chủ nhiệm Ủy ban Kinh tế và Tài chính Phan Văn Mãi đề nghị làm rõ khái niệm “dịch vụ tài sản mã hóa” và phạm vi dịch vụ tài sản mã hóa cần báo cáo.

Ủy ban Kinh tế và Tài chính cũng đề nghị rà soát, hoàn thiện các tiêu chí nhận diện dấu hiệu đáng ngờ trong lĩnh vực tài sản mã hóa bảo đảm cụ thể, khả thi và có hướng dẫn cụ thể về nguồn dữ liệu, cách thức nhận diện các dấu hiệu; phân định trách nhiệm của tổ chức thực hiện dịch vụ tài sản mã hóa và cơ quan phòng, chống rửa tiền.

Cùng với đó, theo cơ quan thẩm tra, cần rà soát quy định về trách nhiệm của các bộ, ngành trong hoạt động phòng, chống rửa tiền, bảo đảm không chồng chéo, bỏ sót nhiệm vụ, nhất là giữa Thanh tra Chính phủ và các bộ có cơ quan thanh tra chuyên ngành.

“Đề nghị làm rõ cơ chế phối hợp giữa Bộ Tài chính, Ngân hàng Nhà nước và Bộ Công an trong thanh tra hoạt động phòng, chống rửa tiền thuộc lĩnh vực tài sản mã hóa”, ông Phan Văn Mãi nêu rõ.

 

 

 

Thích