Chi tiết tin tức
A- A A+ | Tăng tương phản Giảm tương phản

Kỷ niệm 140 năm Ngày Quốc tế Lao động (1/5/1886-1/5/2026) - Kỳ II: Đóng góp của giai cấp công nhân Việt Nam qua các thời kỳ cách mạng*

Tạp chí Thị trường Tài chính Tiền tệ trân trọng giới thiệu nội dung Đề cương do Ban Tuyên giáo và Dân vận Trung ương phối hợp với Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam biên soạn nhằm góp phần tuyên truyền sâu rộng ý nghĩa lịch sử, giá trị và tinh thần của Ngày Quốc tế Lao động (1/5); quá trình phát triển của giai cấp công nhân và Công đoàn Việt Nam. Khẳng định sự quan tâm của Đảng, Nhà nước đối với người lao động; cổ vũ công nhân, viên chức, người lao động phát huy bản lĩnh, sáng tạo, tích cực thi đua lao động

Sự kiện nổi bật

Kỷ niệm 140 năm Ngày Quốc tế Lao động (1/5/1886-1/5/2026) - Kỳ II: Đóng góp của giai cấp công nhân Việt Nam qua các thời kỳ cách mạng*

30/04/2026 06:30

Tạp chí Thị trường Tài chính Tiền tệ trân trọng giới thiệu nội dung Đề cương do Ban Tuyên giáo và Dân vận Trung ương phối hợp với Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam biên soạn nhằm góp phần tuyên truyền sâu rộng ý nghĩa lịch sử, giá trị và tinh thần của Ngày Quốc tế Lao động (1/5); quá trình phát triển của giai cấp công nhân và Công đoàn Việt Nam. Khẳng định sự quan tâm của Đảng, Nhà nước đối với người lao động; cổ vũ công nhân, viên chức, người lao động phát huy bản lĩnh, sáng tạo, tích cực thi đua lao động sản xuất, góp phần thực hiện thắng lợi các mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội, nhất là Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng.

 

Mời đọc Kỳ I: Kỷ niệm 140 năm Ngày Quốc tế Lao động (1/5/1886-1/5/2026) - Kỳ I: Lịch sử và ý nghĩa ngày Quốc tế Lao động*

Phong trào công nhân trước năm 1930

Năm 1858, thực dân Pháp nổ súng xâm lược Việt Nam, mở đầu bằng cuộc đổ bộ lên bán đảo Sơn Trà (Đà Nẵng). Từ đây, nước ta dần bị đặt dưới ách thống trị thuộc địa, trở thành nơi tiêu thụ hàng hóa, khai thác tài nguyên, bóc lột nhân công rẻ và là vị trí quân sự quan trọng của Pháp tại Đông Nam A.

Trong quá trình khai thác thuộc địa ấy, giai cấp công nhân Việt Nam từng bước hình thành và phát triển. Đến năm 1929, số công nhân làm việc trong các doanh nghiệp tư bản Pháp đã vượt 22 vạn người, gồm 5,3 vạn thợ mỏ, 8,6 vạn công nhân công - thương nghiệp và 8,1 vạn công nhân đồn điền. Tuy nhiên, do mới ra đời trong điều kiện bị áp bức nặng nề, các phong trào đấu tranh của công nhân thời kỳ này phần lớn còn phân tán, mang tính tự phát, thiếu tổ chức và đường lối lãnh đạo thống nhất.

Thấm nhuần tư tưởng của Lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc về tổ chức Công hội, trước yêu cầu phát triển của phong trào công nhân, ngày 28/7/1929, đồng chí Nguyễn Đức Cảnh đã triệu tập Đại hội đại biểu công nhân các tỉnh Bắc Kỳ tại số nhà 15 phố Hàng Nón (Hà Nội), thành lập Tổng Công hội đỏ Bắc Kỳ và được cử làm Hội trưởng lâm thời.

Ngày 3/2/1930, Lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc chủ trì Hội nghị hợp nhất các tổ chức cộng sản, thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam, mở ra thời kỳ mới của phong trào công nhân Việt Nam - giai cấp công nhân có tổ chức chính trị tiên phong lãnh đạo và phong trào công nhân gắn liền với phong trào cách mạng dân tộc.

Đóng góp trong những năm 1930 - 1945

Đầu năm 1929, cuộc khủng hoảng kinh tế của các nước tư bản đã ảnh hưởng trực tiếp đến nước Pháp và các thuộc địa. Chính quyền thực dân trút mọi hậu quả lên đầu nhân dân Việt Nam, khiến đời sống của giai cấp công nhân vốn đã khó khăn lại càng thêm khốn đốn.

Trước tình hình đó, Công hội đỏ đã lãnh đạo giai cấp công nhân đấu tranh mạnh mẽ trong cao trào cách mạng (1930 - 1931), tiêu biểu là phong trào của công nhân Nhà máy Xe lửa Tràng Thi, Nhà máy cưa và Nhà máy Diêm Bến Thủy vào ngày 01/5/1930, đưa tỉnh thần Ngày Quốc tế Lao động từ yêu sách kinh tế trở thành phong trào đấu tranh đòi quyền tự do, dân chủ và hòa bình.

Phong trào cách mạng dâng cao đã làm bộ máy chính quyền của đế quốc và phong kiến ở nhiều vùng nông thôn bị tê liệt. Lần đầu tiên trong lịch sử, chính quyền của người lao động - chính quyền Xô viết Nghệ - Tĩnh được hình thành, để lại nhiều bài học quý báu về giành và xây dựng chính quyển cách mạng.

Những năm 1932 - 1935, phong trào cách mạng bị thực dân Pháp đàn áp khốc liệt, nhiều cán bộ Đảng và Công hội đỏ bị bắt giam. Khủng hoảng kinh tế khiến cho tám vạn người thất nghiệp. Tuy nhiên, nhờ sự nhiệt tình cách mạng của giai cấp công nhân, phong trào cách mạng trong cả nước bắt đầu hồi phục.

Từ năm 1936 - 1939, phong trào công nhân phát triển mạnh mẽ với hàng trăm cuộc bãi công đòi tăng lương, giảm giờ làm, cải thiện điều kiện lao động. Tiêu biểu là các cuộc bãi công của công nhân mỏ Hòn Gai, công nhân xe lửa tuyển Vinh - Dĩ An và cuộc biểu dương lực lượng của hơn 25.000 công nhân lao động Hà Nội ngày 1/5/1938.

Khi Chiến tranh thế giới thứ hai bùng nổ (1939), chính quyền thực dân tăng cường đàn áp phong trào cách mạng. Tuy vậy, giai cấp công nhân và các tổ chức công nhân cứu quốc vẫn tiếp tục hoạt động, phát triển lực lượng và chuẩn bị cho tổng khởi nghĩa.

Tháng 5/1945, công nhân ở nhiều nơi đã tham gia đấu tranh chính trị kết hợp đấu tranh vũ trang, chế tạo vũ khí và tham gia khởi nghĩa. Dưới sự lãnh đạo của Trung ương Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh, giai cấp công nhân cùng toàn dân làm nên thắng lợi vĩ đại của Cách mạng Tháng Tám năm 1945, khai sinh nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa - nhà nước dân chủ nhân dân đầu tiên ở Đông Nam Á.

Đóng góp trong thời kỳ kháng chiến chống thực dân Pháp (1945-1954)

Sau Cách mạng Tháng Tám, đất nước ta vừa xây dựng chính quyền cách mạng, vừa đối mặt với âm mưu xâm lược của thực dân Pháp. Giai cấp công nhân đã tích cực tham gia bảo vệ cơ sở sản xuất, duy trì hoạt động kinh tế và phục vụ kháng chiến.

Hưởng ứng lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến (19/12/1946), công nhân cả nước tích cực tham gia vận chuyển máy móc, xây dựng các cơ sở sản xuất vũ khí và đầy mạnh phong trào thi đua sản xuất phục vụ chiến đấu.

Sau Chiến thắng Việt Bắc - Thu Đông năm 1947, cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp chuyển sang giai đoạn mới, nhiều phong trào thi đua được phát động, như: “Tăng gia sản xuất vũ khí”, “Tăng gia sản xuất, tự túc ăn mặc" "Tích cực chuẩn bị tổng phản công” đã động viên toàn thể công nhân hoàn thành nhiệm vụ, phục vụ chiến đấu. Kết quả, đến năm 1950, công nhân đã sản xuất được trên 350 nghìn nông cụ các loại, 200 máy bơm nước, 40 xe đạp nước cung cấp cho nông nghiệp. Tính đến tháng 11/1950, công nhân lao động vùng tự do đã quyên góp, ủng hộ cho Nhà nước 1.076.000 đồng; ủng hộ nhân dân vùng bị nạn và bộ đội 16.000 bộ quần áo, 6.000 chiếc ba lô, 1.200 áo trấn thủ... Cùng với việc đẩy mạnh phong trào thi đua sản xuất, các hoạt động tăng gia cải thiện đời sống, công tác văn hóa, giáo dục, nâng cao trình độ mọi mặt cho công nhân được quan tâm triển khai tích cực.

Giai đoạn cuối của cuộc kháng chiến, giai cấp công nhân cùng với giai cấp nông dân xây dựng được khối liên minh công nông vững chắc, làm nòng cốt xây dựng và củng cố chính quyền nhân dân, góp phần tích cực vào chiến thắng Điện Biên Phủ “lừng lẫy năm châu, chấn động địa cầu”, kết thúc vẻ vang 9 năm kháng chiến chống thực dân Pháp đầy hy sinh, gian khổ và anh dũng của dân tộc Việt Nam.

Đóng góp trong những năm xây dựng Chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc, chống chiến tranh xâm lược của đế quốc Mỹ (1954-1975)

Sau chiến thắng Điện Biên Phủ, Việt Nam tạm thời bị chia thành hai miền, miền Bắc hoàn toàn được giải phóng và bắt tay vào công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội, miền Nam còn dưới ách thống trị của đế quốc Mỹ.

2-5.jpg

Bác Hồ thăm Nhà máy Diêm Thống Nhất những năm đầu khôi phục kinh tế (1956). Ảnh: Tư liệu TTXVN

Ở miền Bắc, công nhân trở thành lực lượng nòng cốt trong công cuộc khôi phục và phát triển sản xuất. Nhiều phong trào thi đua lao động sản xuất, cần kiệm xây dựng chủ nghĩa xã hội với năng suất lao động, hiệu quả công tác, phục vụ và tham gia chiến đấu, quyết tâm giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước được phát động, như “Sóng Duyên Hải”, "Hợp tác xã Thành Công”, “Ba quyết tâm"... đã lan tỏa sâu rộng, xuất hiện nhiều điển hình tiên tiến được Đảng và Nhà nước phong tặng danh hiệu Anh hùng Lao động.

Ở miền Nam, phong trào công nhân hoạt động trong điều kiện vô cùng khó khăn, đế quốc Mỹ và bè lũ tay sai Ngô Đình Diệm ra sức khủng bố, đàn áp. Các ngành công nghiệp, thủ công nghiệp bị đình đốn, đời sống của công nhân khó khăn. Trước tình hình đó, Đảng đã chỉ đạo các cơ sở trong nội thành, trong các đồn điền phải tìm mọi cách bám đất, bám dân phát triển lực lượng, tổ chức cho công nhân vừa đấu tranh ở đô thị, vừa tập trung sản xuất ở vùng giải phóng phục vụ chiến đấu. Trong cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân 1968 và Chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử, công nhân đô thị nổi dậy, phối hợp lực lượng vũ trang, góp phần giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước (30/4/1975).

Đóng góp trong những năm cả nước thống nhất đi lên Chủ nghĩa xã hội đến nay (1975 đến nay)

Trong giai đoạn 1975 - 1985, Công đoàn Việt Nam được thống nhất (năm 1976) theo Chỉ thị của Bộ Chính trị, Ban Bí thư, mở ra bước phát triển mới cho phong trào công nhân. Công nhân lao động tích cực tham gia khắc phục hậu quả chiến tranh, bảo vệ Tổ quốc ở biên giới, đẩy mạnh thi đua lao động sản xuất, phát triển kinh tế - xã hội, đi đầu thực hiện các chương trình kinh tế lớn của Đảng.

Trong thời kỳ đầu đổi mới, công nhân trong các thành phần kinh tế hăng hái thi đua lao động sản xuất, tiết kiệm, góp phần thực hiện nhiều công trình trọng điểm của đất nước, như: thủy điện Hòa Bình, Trị An, mỏ Apatit Lào Cai, dầu khí Vũng Tàu,… tích cực thực hiện nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

Bước vào giai đoạn 1996 - 2006, cùng với quá trình đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập kinh tế quốc tế. Các phong trào thi đua yêu nước được đẩy mạnh, góp phần nâng cao năng suất lao động, thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội; giai cấp công nhân tiếp tục được xây dựng vững mạnh, góp phần củng cố khối đại đoàn kết toàn dân tộc.

Từ năm 2007 đến nay, trước yêu cầu của hội nhập quốc tế, chính sách, pháp luật về lao động ngày càng được xây dựng, hoàn thiện. Các hoạt động chăm lo đời sống vật chất, tinh thần cho công nhân, người lao động ngày càng được đẩy mạnh, nhất là tại các khu công nghiệp, khu chế xuất; các phong trào thi đua yêu nước tiếp tục được triển khai sâu rộng, góp phần xây dựng quan hệ lao động hài hòa, ổn định, tiến bộ, nâng cao năng suất lao động và phát triển kinh tế - xã hội.

* Tít bài do Ban Biên tập đặt - Nguồn Đề cương tuyên truyền Kỷ niệm 140 năm ngày quốc tế lao động - Ban Tuyên giáo và Dân vận Trung - Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam

Mời đọc Kỳ III:

 
Thích