|
| Việt Nam sẽ phát triển và đưa vào vận hành tối thiểu 5 sàn dữ liệu, tạo nền tảng cho việc khai thác và lưu thông dữ liệu như một nguồn lực sản xuất mới của nền kinh tế. |
Nhiều mục tiêu tham vọng về kinh tế số
Phó Thủ tướng Hồ Quốc Dũng vừa ký Quyết định số 1033/QĐ-TTg phê duyệt Chương trình phát triển kinh tế số và xã hội số giai đoạn 2026-2030. Chương trình hướng tới xây dựng nền kinh tế số năng động dựa trên nền tảng số, dữ liệu và trí tuệ nhân tạo; từng bước hình thành phương thức sản xuất mới, thúc đẩy đổi mới mô hình tăng trưởng, nâng cao năng suất lao động, phát triển xanh và bền vững.
Cùng với đó, Chương trình đặt mục tiêu kiến tạo xã hội số văn minh, an toàn và bao trùm, bảo đảm mọi người dân đều có cơ hội tiếp cận, sử dụng và thụ hưởng các thành quả của khoa học, công nghệ và chuyển đổi số, góp phần nâng cao chất lượng cuộc sống và hạnh phúc của người dân.
Về phát triển kinh tế số, Chương trình đặt mục tiêu đến năm 2030, tỷ trọng giá trị tăng thêm của kinh tế số trong GDP đạt khoảng 30%; hỗ trợ tối thiểu 500.000 doanh nghiệp nhỏ và vừa thực hiện chuyển đổi số; hình thành ít nhất 5 doanh nghiệp công nghệ số có năng lực cạnh tranh ngang tầm các nước tiên tiến trong khu vực và trên thế giới.
Đồng thời, Việt Nam sẽ phát triển và đưa vào vận hành tối thiểu 5 sàn dữ liệu, tạo nền tảng cho việc khai thác và lưu thông dữ liệu như một nguồn lực sản xuất mới của nền kinh tế.
Một chỉ tiêu đáng chú ý khác là giá trị thanh toán không dùng tiền mặt đạt quy mô gấp 30 lần GDP; tỷ trọng quy mô đào tạo đại học các ngành khoa học, công nghệ, kỹ thuật và toán học (STEM) đạt 40%, đáp ứng nhu cầu nhân lực chất lượng cao cho nền kinh tế số.
Đối với xã hội số, Chương trình phấn đấu 100% hộ gia đình được tiếp cận Internet băng rộng cáp quang với tốc độ 1 Gb/s; mạng băng rộng di động 5G phủ sóng 99% dân số với tốc độ tối thiểu 100 Mb/s.
Bên cạnh đó, 100% công dân Việt Nam từ 14 tuổi trở lên có căn cước và tài khoản định danh điện tử; 95% dân số từ 15 tuổi trở lên có tài khoản giao dịch tại ngân hàng hoặc tổ chức được phép khác; trên 70% dân số từ 18 tuổi trở lên có chữ ký số hoặc chữ ký điện tử cá nhân.
Chương trình cũng đặt mục tiêu đào tạo, bồi dưỡng và nâng cao năng lực số cơ bản cho ít nhất 10 triệu lượt người trong độ tuổi lao động.
Phát triển hạ tầng số, dữ liệu và AI làm nền tảng tăng trưởng
Để hiện thực hóa các mục tiêu đề ra, Chương trình xác định 15 nhóm nhiệm vụ và giải pháp trọng tâm.
Trong đó, một trong những ưu tiên hàng đầu là hoàn thiện thể chế, xây dựng hành lang pháp lý đồng bộ, minh bạch nhằm thúc đẩy đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số và phát triển kinh tế số, xã hội số.
Chương trình đặc biệt nhấn mạnh việc phát triển hạ tầng số nhanh, đồng bộ, hiện đại, an toàn và bền vững. Nhà nước sẽ giữ vai trò chủ đạo trong đầu tư các hạ tầng số chiến lược và hạ tầng số công cộng thiết yếu, trong khi doanh nghiệp phát triển các hạ tầng số khác theo cơ chế thị trường.
Các hạ tầng trọng điểm được ưu tiên gồm mạng băng rộng, mạng 5G và các thế hệ mạng di động tiếp theo, Internet vệ tinh quỹ đạo tầm thấp, trung tâm dữ liệu, điện toán đám mây, hạ tầng tính toán hiệu năng cao và hạ tầng phục vụ trí tuệ nhân tạo theo mô hình dịch vụ.
Song song với đó, Việt Nam sẽ đẩy mạnh phát triển nền tảng số quốc gia, nền tảng số dùng chung và hệ sinh thái số do doanh nghiệp Việt Nam làm chủ; thúc đẩy doanh nghiệp ứng dụng nền tảng số trong quản trị, sản xuất và kinh doanh.
Dữ liệu được xác định là nguồn lực mới và động lực quan trọng của tăng trưởng kinh tế số. Chương trình yêu cầu phát triển mạnh các cơ sở dữ liệu quốc gia và cơ sở dữ liệu chuyên ngành, thúc đẩy chia sẻ dữ liệu giữa khu vực công và khu vực tư, phát triển dữ liệu mở, xây dựng thị trường dữ liệu và thí điểm sàn giao dịch dữ liệu.
Đáng chú ý, trí tuệ nhân tạo (AI) được xác định là công nghệ trọng tâm giúp nâng cao năng suất lao động, tối ưu hóa vận hành và đổi mới phương thức ra quyết định dựa trên dữ liệu. Các bộ, ngành sẽ lựa chọn những bài toán trọng điểm để thí điểm và nhân rộng các mô hình ứng dụng AI hiệu quả, đồng thời hỗ trợ doanh nghiệp, đặc biệt là doanh nghiệp nhỏ và vừa, tiếp cận và ứng dụng công nghệ này.
Phát triển nguồn nhân lực và doanh nghiệp công nghệ số Việt Nam
Chương trình dành một nội dung quan trọng cho phát triển nguồn nhân lực số toàn diện, bao gồm đội ngũ chuyên gia công nghệ số, lực lượng lao động có kỹ năng số và phổ cập năng lực số cho toàn xã hội.
Các giải pháp sẽ tập trung đào tạo nhân lực chất lượng cao trong các lĩnh vực công nghệ số chiến lược; thúc đẩy học tập suốt đời, chuyển đổi kỹ năng cho người lao động; tăng cường liên kết giữa cơ quan quản lý, doanh nghiệp và cơ sở đào tạo.
Cùng với đó, Việt Nam sẽ xây dựng cơ chế thu hút và trọng dụng nhân tài công nghệ số trong và ngoài nước; phát triển thị trường lao động số; ứng dụng AI trong kết nối việc làm và dự báo nhu cầu nhân lực.
Đối với doanh nghiệp công nghệ số, Chương trình đặt mục tiêu phát triển các doanh nghiệp Việt Nam trở thành lực lượng nòng cốt, làm chủ các công nghệ số chiến lược, phát triển hệ sinh thái sản phẩm và dịch vụ “Make in Vietnam”, từng bước tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị toàn cầu.
Bên cạnh các nhiệm vụ về hạ tầng, dữ liệu, AI và nguồn nhân lực, Chương trình còn tập trung phát triển quản trị số quốc gia dựa trên dữ liệu, thúc đẩy các thị trường hiện đại như thị trường dữ liệu, thị trường đổi mới sáng tạo, thị trường tín chỉ carbon; đồng thời đẩy mạnh phát triển kinh tế số trong các lĩnh vực trọng điểm như nông nghiệp, công nghiệp chế biến chế tạo, thương mại, logistics, năng lượng, giáo dục, lao động việc làm, văn hóa, du lịch và an sinh xã hội.
Với các mục tiêu và giải pháp đồng bộ, Chương trình phát triển kinh tế số và xã hội số giai đoạn 2026-2030 được kỳ vọng sẽ tạo nền tảng vững chắc để Việt Nam bứt phá trong kỷ nguyên số, hình thành các động lực tăng trưởng mới và nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia trong bối cảnh chuyển đổi số toàn cầu diễn ra mạnh mẽ.


