Chi tiết tin tức
A- A A+ | Tăng tương phản Giảm tương phản

Phát huy vai trò và chức năng của các khu vực kinh tế chính trong phát triển kinh tế ở Việt Nam

Phát huy vai trò và chức năng của các khu vực kinh tế chính trong phát triển kinh tế ở Việt Nam

GS.TS.Ngô Thắng Lợi

PGS.TS .Vũ Thành Hưởng

Đại học Kinh tế Quốc dân

SỰ TỒN TẠI KHÁCH QUAN VỚI VAI TRÒ VÀ CHỨC NĂNG KHÁC NHAU CỦA CÁC KHU VỰC KINH TẾ CHÍNH Ở VIỆT NAM TRONG KỶ NGUYÊN MỚI

Thứ nhất, Việt Nam đang theo đuổi một mô hình phát triển Kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa (chính thức từ năm 2001 - Đại hội Đại biểu Đảng toàn quốc lần thứ IX), đó là “Một kiểu tổ chức kinh tế vừa tuân theo những quy luật của kinh tế thị trường vừa dựa trên cơ sở và được dẫn dắt, chi phối bởi các nguyên tắc và bản chất của chủ nghĩa xã hội (Nguyễn Phú Trọng, 2022). Điều này, cho phép tồn tại một cấu trúc nền kinh tế đa khu vực và các khu vực kinh tế cần phải được “bình đẳng về tư cách, được tự do kinh doanh”. Ba khu vực kinh tế chủ yếu được xác định, đó là: kinh tế nhà nước, kinh tế tư nhân (KTTN) và kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài.

Thứ hai, Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương lần thứ 10 khóa XIII (tháng 9/2024) đã thống nhất khẳng định Việt Nam bước vào “kỷ nguyên vươn mình”, với những mục tiêu cao cả: đến năm 2030 là nước đang phát triển có mức thu nhập trung bình cao và đến 2045, trở thành một quốc gia phát triển có mức thu nhập cao và điều này cũng đã được khẳng định trong văn kiện Đại hội XIV vừa qua. Để thực hiện được mục đích cao cả trên, các khu vực kinh tế cần có “khác biệt về vai trò và chức năng”. Sự khác biệt về vai trò và chức năng hoạt động là cơ sở để thực hiện sự phân biệt chính sách nhất định khi các chủ thể đảm nhiệm những chức năng sản xuất - kinh doanh cụ thể trong nền kinh tế. Nhà nước có thể dành sự ưu tiên, ưu đãi cho việc thực hiện một nhiệm vụ chức năng cụ thể, tùy thuộc vào mức độ ưu tiên chiến lược quốc gia dành cho nhiệm vụ đó, tại thời điểm đó không phân biệt thành phần chủ thể tham gia.

Thứ ba, xét về nguyên lý và thực tiễn trên thế giới cho thấy: để tăng trưởng kinh tế nhanh và bền vững thì động lực chính lại là các quyết định sản xuất được đưa ra bởi các tư nhân hoạt động vì lợi nhuận (E. Wayne Nafziger, 1998) và và việc quyết định xem sản xuất và tiêu thụ cái gì và bao nhiêu, đều được các đơn vị KTTN đưa ra (Todaro, 1997). V.I. Lê nin (1978) đã nói: Nếu tìm cách ngăn cấm, triệt để chặn đứng mọi sự phát triển của sự trao đổi tư nhân, không phải là quốc doanh, tức là của thương mại, thì chính sách ấy là một sự dại dột và tự sát vì nó không thể nào thực hiện được và nhất định sẽ bị phá sản. Vì thế, phát biểu chỉ đạo trong cuộc họp với tiểu ban kinh tế - xã hội (biên soạn văn kiện đại hội Đảng lần thứ XIV), Tổng Bí thư Tô Lâm đã chỉ đạo: cần phải loại bỏ tư tưởng “Trọng công hơn tư” và sự “độc quyền” của doanh nghiệp nhà nước (DNNN) trong một số lĩnh vực. Trong mô hình tăng trưởng mới, cần xác định rõ đúng vai trò của các thành phần kinh tế, nhấn mạnh vai trò KTTN như một động lực quan trọng để tăng trưởng GDP.

ĐỊNH VỊ VAI TRÒ VÀ CHỨC NĂNG CỤ THỂ CỦA CÁC KHU VỰC KINH TẾ CHỦ YẾU TRONG KỶ NGUYÊN PHÁT TRIỂN MỚI

Với quan điểm nói trên, nhằm mục tiêu phát huy được thế mạnh của mỗi khu vực kinh tế, phù hợp với bản chất của mô hình kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, vai trò của của 3 khu vực kinh tế chính của nền kinh tế đã được định vị rõ trong văn kiện Đại hội Đại biểu Đảng toàn quốc lần thứ XIV: Kinh tế nhà nước đóng vai trò chủ đạo - KTTN là động lực phát triển quan trọng nhất trong phát triển kinh tê quốc gia - Kinh tế có vốn đầu tư nước cần nhấn mạnh vài trò là khu vực bổ trợ quan trọng. Nếu ví nền kinh tế Việt Nam một đoàn tầu đi tới đích thì: kinh tế nhà nước đóng vai trò thiết kế đường ray và hướng đi tới địch, KTTN được xác định là động lực để đẩy đoàn tầu đi với tốc độ nhanh và kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài được xem như là những nhà ga, bến tầu để tiếp năng lượng cho đoàn tầu tiến nhanh về phía đích.

- Tính chủ đạo của kinh tế nhà nước thể hiện ở vai trò định hướng, kiến tạo, dẫn dắt, điều tiết quá trình phát triển để theo đuổi được các mục tiêu xã hội chủ nghĩa trong nền kinh tế thị trường hiện đại ở Việt Nam (mà các khu vực kinh tế khác không chủ động làm được). Khác với quan điểm chủ đạo trước đây, không đặt vai trò chủ đạo của kinh tế nhà nước ở góc độ thúc đẩy phát triển nhanh, hiệu quả, hay phải chiếm lĩnh toàn bộ các lĩnh vực chủ chốt của nền kinh tế.

- Vai trò động lực phát triển chính trong phát triển kinh tế quốc gia cần được đặt lên vai khu vực KTTN. Tức là, KTTN đóng vai trò là lực đẩy trực tiếp, tạo sức bật phát triển nhanh cho nền kinh tế, phải trở thành một khu vực năng động, sáng tạo, cạnh tranh có hiệu quả nhất, quyết định đến năng suất lao động và lợi nhuận kinh tế cho toàn nền kinh tế. Nếu hiểu vai trò chủ đạo của kinh tế nhà nước và vai trò động lực quan trọng nhất của KTTN theo cách nói ở trên thì hoàn toàn không có gì mâu thuẫn với nhau.

- Kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài (cả đầu tư trực tiếp và đầu tư gián tiếp) trước hết xác định vai trò bổ trợ, vì trong quá trình thực hiện mục tiêu phát triển, Việt Nam (đang phát triển) vẫn rất cần sự tiếp sức của các nền kinh tế khác trên thế giới trên các phương diện. Còn vai trò bổ trợ “Quan trọng” có nghĩa là Việt Nam đặt vấn đề không chỉ ở khía cạnh vốn tài chính mà quan trọng hơn là hỗ trợ chuyển giao công nghệ, và chuyển giao trí thức.

CHỨC NĂNG CỦA TỪNG KHU VỰC KINH TẾ CHỦ YẾU

Khu vực kinh tế nhà nước: Trong Nghị quyết số 79-NQ/TW ngày 06/01/2026 của Bộ Chính trị, bao gồm các nguồn lực do Nhà nước nắm giữ, quản lý và chi phối hoạt động nhằm thực hiện các mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội, ổn định vĩ mô và bảo đảm an ninh, quốc phòng, như: Đất đai, tài nguyên khoáng sản, tài nguyên nước, vùng biển, vùng trời, không gian ngầm, các công trình kết cấu hạ tầng do Nhà nước đầu tư xây dựng, ngân sách nhà nước, dự trữ quốc gia, các quỹ tài chính nhà nước ngoài ngân sách, DNNN, tổ chức tín dụng nhà nước, vốn nhà nước tại doanh nghiệp do Nhà nước nắm giữ từ 50% vốn điều lệ trở xuống, đơn vị sự nghiệp công lập. Kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Theo quan điểm nghiên cứu, vai trò chủ đạo của kinh tế nhà nước trong phát triển kinh tế cần được cụ thể qua các chức năng chính:

(1) Chức năng xây dựng và thực hiện chiến lược và an ninh kinh tế: Kinh tế nhà nước nắm giữ các lĩnh vực trụ cột như năng lượng, tài chính - ngân hàng, hạ tầng thiết yếu, công nghiệp quốc phòng, dữ liệu quốc gia… Những lĩnh vực này không chỉ quan trọng về mặt hướng nền kinh tế vào các mục tiêu mà xã hội cần có, mà còn gắn với chủ quyền và năng lực phòng vệ, an ninh, an toàn quốc gia. Khi thị trường gặp biến động hoặc khủng hoảng, đây chính là lực lượng “giữ nhịp” - bảo đảm an toàn hệ thống và năng lực phục hồi quốc gia.

(2) Chức năng dẫn dắt kiến tạo và hỗ trợ, yểm trợ quá trình phát triển của các khu vực kinh tế khác: Kinh tế nhà nước cần đi tiên phong trong các lĩnh vực có tính nền tảng hoặc rủi ro cao mà khu vực tư nhân chưa sẵn sàng tham gia, hoặc tham gia nhưng bị thất bại, cụ thể như công nghệ lõi, năng lượng tái tạo, hạ tầng số, chuyển đổi xanh, trí tuệ nhân tạo… Trong quá trình phát triển các lĩnh vực này, kinh tế nhà nước có vai trò tạo cơ hội cho sự tham gia của các khu vực KTTN, chủ động tổ chức phối hợp sự tham gia của các khu vực khác dưới các hình thức hợp tác công tư (PPP). Khi các khu vực khác đã đủ mạnh, vai trò này sẽ chuyển hóa thành hợp tác và lan tỏa - tạo cú hích để tư nhân bứt phá, kinh tế nhà nước sẽ rút dần và chỉ đóng vai trò đầu tư “yểm trợ” “hỗ trợ” cho KTTN khi khu vực này cần thiết.

(3) Chức năng điều chỉnh tạo thế cân bằng trong cân đối vĩ mô: Lực lượng kinh tế nhà nước, thông qua DNNN, ngân sách nhà nước, quỹ dự trữ quốc gia bảo đảm duy trì sự sự an toàn của các cân đối vĩ mô liên quan đến tài chính - ngân sách, tiền tệ - tín dụng, thương mại - thanh toán, an ninh năng lượng - lương thực, đảm bảo quốc gia không bị thâm hụt cán thương mại và cân thanh toán kéo dài, tránh các vấn đề về nợ công và dự trữ ngoại hối.

(4) Chức năng là tấm gương sáng, định hình các xu thế mới, hiện đại. Kinh tế nhà nước xây dựng môi trường thị trường lành mạnh và cạnh tranh công bằng trong lực lượng kinh tế nhà nước. Kinh tế nhà nước luôn gương mẫu về quản trị minh bạch, tuân thủ luật chơi thị trường và đi đầu trong chuyển đổi quản trị số, ESG (Bộ tiêu chuẩn phát triển bền vững: Môi trường - Xã hội - Quản trị), văn hóa doanh nghiệp. Vai trò chủ đạo nằm ở khả năng thiết lập niềm tin thị trường và tiêu chuẩn hóa đạo đức kinh doanh.

Khu vực kinh tế tư nhân: Nghị quyết số 68-NQ/ TW ngày 04/5/2025 của Ban chấp hành Trung ương đã khẳng định, sau gần 40 năm đổi mới, KTTN nước ta đã từng bước phát triển cả về số lượng và chất lượng, trở thành một trong những động lực quan trọng của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Khu vực KTTN hiện có khoảng hơn 940 nghìn doanh nghiệp và hơn 5 triệu hộ kinh doanh đang hoạt động, đóng góp khoảng 50% GDP, hơn 30% tổng thu ngân sách nhà nước và sử dụng khoảng 82% tổng số lao động vào tăng trưởng kinh tế, tạo việc làm, là lực lượng quan trọng thúc đẩy đổi mới sáng tạo, nâng cao năng suất lao động, gia tăng năng lực cạnh tranh quốc gia, góp phần xoá đói, giảm nghèo, ổn định đời sống xã hội. Nhiều doanh nghiệp tư nhân đã phát triển lớn mạnh, khẳng định thương hiệu và vươn ra thị trường khu vực, thế giới. Khu vực KTTN được xác định là một động lực quan trọng nhất của nền kinh tế quốc gia. Theo quan điểm nghiên cứu, cần hoàn thiện dựa trên những chức năng chính sau đây:

(1) Là động lực dẫn dắt tăng trưởng kinh tế, lợi nhuận và thu ngân sách. Đây có thể nói là chức năng quan trọng nhất để khu vực tư nhân đảm nhận vai trò động lực chính cho phát triển. KTTN phải quan tâm đầu tư vào các ý tưởng mới và các cơ sở sản xuất mới, nghiên cứu triển khai áp dụng khoa học công nghệ mới nhằm tận dụng các cơ hội tạo lợi nhuận, giá trị mới được sáng tạo không ngừng, năng suất lao động và chuyển giao kiến thức được thúc đẩy liên tục. Ở Việt Nam hiện nay, đóng góp vào tăng trưởng và thu ngân sách chưa thực sự cao, vì thế, cần phải cần ưu tiên xây dựng các tập đoàn KTTN tầm cỡ khu vực và toàn cầu, tích cực hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa, đồng thời nâng đỡ thành phần kinh tế hộ, kinh tế hợp tác, khuyến khích doanh nghiệp tư nhân tham gia vào các lĩnh vực chiến lược của đất nước.

(2) Là lực lượng nòng cốt trong tạo công ăn việc làm và giải quyết vấn nạn thất nghiệp. Theo đánh giá của Ngân hàng Thế giới (WB) trên 90% việc làm ở các nước đang phát triển là do khu vực tư nhân tạo ra. Tổ chức Lao động Quốc tế (ILO) đã chỉ ra rằng khu vực KTTN tạo ra và duy trì được từ 60% đến 70% việc làm đối với các quốc gia phát triển và đóng vai trò nòng cốt trong việc thay thế khu vực DNNN trong tạo việc làm và giải quyết tình trạng thất nghiệp. Ở Việt Nam hiện nay, lao động được làm việc trong khu vực KTTN cũng đã chiếm 85% (số liệu năm 2023).

(3) Là động lực chính cung cấp dịch vụ thiết yếu và xoá đói giảm nghèo. Vai trò này trở nên quan trọng hơn trong giai đoạn hiện nay, Nhà nước cần tìm kiếm các giải pháp thay thế cho nguồn vốn công và tìm kiếm các cách thức hiệu quả hơn để cung cấp dịch vụ. Việc giải quyết 85% lực lượng lao động và nâng cao hiệu quả kinh doanh của khu vực KTTN Việt Nam chính là phương cách tốt nhất để sự nghiệp giảm nghèo được giao về cho khu vực KTTN.

Khu vực FDI, trong nhiều năm qua, đóng góp khoảng 20-25% GDP, hơn 70% kim ngạch xuất khẩu và tạo việc làm cho hơn 4,5 triệu lao động. FDI giúp bổ sung vốn đầu tư, chuyển giao công nghệ, nâng cao năng suất lao động và thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Để đóng vai trò trợ lực quan trọng thúc đẩy kinh tế Việt Nam, theo quan điểm nghiên cứu, cần hướng khu vực này tới các chức năng chính:

(1) Hỗ trợ mục tiêu nâng cao chất lượng và hiệu quả tài chính và năng lực cạnh tranh. Các dự án FDI không chỉ tạo ra giá trị kinh tế trước mắt, mà nó giúp mang lại các lợi ích dài hạn, bao gồm cải thiện năng suất lao động, hiệu quả sử dụng vốn, tăng cường năng lực cạnh tranh quốc gia. FDI thu hút hướng vào các trọng điểm như AI, năng lượng tái tạo, công nghệ sinh học, háo học để hỗ trợ giúp Việt nam nắm bắt kịp xu hướng phát triển của khoa học công nghệ và đổi mới sáng tạo thế giới.

(2) Thực hiện tốt chức năng chuyển giao công nghệ. Điều này đặt ra: (i) Bản thân các dự án FDI vào Việt Nam phải là các dự án chứng minh được trình độ công nghệ cao, tiến tiến, hiện đại theo các tiêu chuẩn quốc tế; (ii) Các hợp đồng FDI phải thể rõ được lộ trình chuyển giao sang khu vực doanh nghiệp nội địa; (iii) Các doanh nghiệp FDI thành lập các trung tâm nghiên cứu triển khai (R&D) tại Việt Nam, thực hiện chức năng dẫn dắt hệ sinh thái R&D trên cơ sở hợp tác với các trường đại học, các viện nghiên cứu của Việt Nam.

(3) Chức năng kết nối, lan toả phát triển đến khu vực nội địa tham gia vào chuỗi giá trị toàn cầu. Chức năng này trước mắt, hỗ trợ Việt Nam trở thành trung tâm sản xuất công nghệ hỗ trợ hàng đầu của khu vực Asean, phát triển công nghiệp bán dẫn nói riêng và công nghiệp chế biến chế tạo nói chung, trong đó doanh nghiệp nội địa và donh nghiệp FDI phát triển song hành.

ĐỊNH HƯỚNG HOÀN THIỆN PHÁT TRIỂN CÁC KHU VỰC KINH TẾ CHỦ YẾU TRONG KỶ NGUYÊN MỚI

Định hướng hoàn thiện phát triển các khu vực kinh tế trong thời gian tới ứng với vai trò và chức năng của từng khu vực này trong quá trình phát triển được xây dựng trên cơ sở những hạn chế nổi bật đang làm mờ đi vai trò của từng khu vực kinh tế.

Đối với khu vực kinh tế nhà nước

Đánh giá lại, trong thời gian qua: (i) Các DNNN - lực lượng nòng cốt của kinh tế nhà nước, hoạt động chưa hiệu quả, chưa tương xứng với vị trí, nguồn lực đang nắm giữ; (ii) Năng lực cạnh tranh quốc tế còn hạn chế, chưa đóng vai trò tiên phong trong đổi mới sáng tạo và dẫn dắt một số ngành, lĩnh vực then chốt, thiết yếu; (iii) Hệ thống tổ chức đơn vị sự nghiệp công lập chưa tinh gọn, cơ chế hoạt động và tự chủ tài chính chậm đổi mới; lộ trình điều chỉnh giá dịch vụ còn chậm, chất lượng dịch vụ chưa đáp ứng yêu cầu; (iv) Một số tồn tại, vướng mắc kéo dài, chưa được xử lý kịp thời, gây lãng phí, thất thoát.

Với những bất cập chính của khu vực kinh tế nhà nước mà Nghị quyết số 79/NQ-TW đưa ra, đặt trong mối quan hệ với các khu vực kinh tế khác, quan điểm định hướng hoàn thiện khu vực kinh tế nhà nước tập trung vào điểm nhấn chính là: Nâng cấp chất lượng hoạt động của khu vực này thay vì mở rộng phát triển về mặt số lượng, nhằm đạt mục tiêu đến năm 2030 phấn đấu có 50 DNNN vào nhóm 500 doanh nghiệp lớn nhất Đông Nam Á và từ 1-3 DNNN vào nhóm 500 doanh nghiệp lớn nhất thế giới. Cụ thể: (i) Rà soát các văn bản quy phạm pháp luật để kịp thời xử lý, tháo gỡ các điểm nghẽn, nút thắt về thể chế đối với kinh tế nhà nước; giải pháp cụ thể như thúc đẩy đầu tư, phát triển khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số, chuyển đổi xanh để kinh doanh hiệu quả, bền vững; nâng cao hiệu quả hoạt động của hệ thống quản trị doanh nghiệp; tiếp tục cơ cấu vốn nhà nước tại doanh nghiệp và đổi mới, sắp xếp lại DNNN; (ii) Thực hiện đổi mới doanh nghiệp theo phương thức quản trị theo hướng hiện đại, hội nhập quốc tế, giúp DNNN chuyển từ “quản lý” sang “quản trị” theo cơ chế thị trường, nâng cao tính minh bạch, trách nhiệm giải trình và chuẩn mực quốc tế, tạo nền tảng nâng cao niềm tin của xã hội, của thị trường và của các đối tác quốc tế đối với DNNN, phấn đấu 100% tập đoàn kinh tế, tổng công ty nhà nước áp dụng nguyên tắc quản trị của OECD.

Đối với khu vực kinh tế tư nhân

Mặc dù, có nhiều sự phát triển vượt trội trong nhiều năm qua, nhưng khu vực KTTN vẫn được đánh giá chung với 3 điểm “nhất”: (i) Là khu vực có hiệu quả hoạt động kinh doanh thấp nhất, tỷ lệ số doanh nghiệp thua lỗ hàng năm khá cao, chiếm gần 50% tổng số doanh nghiệp, lợi nhuận trước thuế của khu vực này đang thấp nhất, năng suất lao động của khu vực KTTN chỉbằng 34% năng suất lao động của khu vực DNNN và khoảng 69% năng suất lao động của khu vực FDI; (ii) Là khu vực có năng lực khoa học - công nghệ hạn chếnhất, có đến gần 60% doanh nghiệp trong lĩnh vực công nghiệp chế biến chế tạo của khu vực tư nhân đang sử dụng các công nghệ có tuổi đời trên 6 năm, các công nghệ của các doanh nghiệp đến chủ yếu từ các nước đang phát triển (chiếm khoảng 65%), trong đó có tới 26,6% công nghệ có xuất xứ từ Trung Quốc, các doanh nghiệp chế biến chế tạo của khu vực tư nhân, 56,5% thuộc nhóm ngành công nghệ thấp; (iii) Thu nhâp của người lao động khu vực tư nhân thấp nhất, thu nhập bình quân tháng một lao động của doanh nghiệp tư nhân chỉ bằng 57,1% của khu vực DNNN và gần 80,5% của khu vực doanh nghiệp FDI. Đây chính là một yếu tố kìm hãm vai trò của khu vực này trong việc thực hiện mục tiêu giải quyết việc làm, tăng thu nhập, cải thiện đời sống dân cư, xóa đói giảm nghèo và an sinh xã hội của đất nước.

Với nhận định nói trên, những điểm nhấn trong hoàn thiện định hướng phát triển của khu vực kinh tế này là: (i) Thay đổi tư duy nhìn nhận khu vực KTTN dưới góc độ nhìn lực lượng KTTN. Lực lượng KTTN của người Việt Nam được hiểu không phải chỉ là số lượng, quy mô của các cơ sở KTTN, mà là một tổng thể cấu trúc các loại hình KTTN của người Việt Nam, trong đó mỗi bộ phận được xác định trong mối quan hệ với các bộ phận khác và với tổng thể hệ thống, tạo thành nền tảng của nền kinh tế thị trường ở Việt Nam, trong đó các tập đoàn kinh tế (doanh nghiệp lớn và siêu lớn) đóng vai trò “trụcột”, làm trục liên kết các doanh nghiệp nhỏ và vừa, tạo thành “chuỗi”, “mạng” sản xuất Việt Nam; (ii) Tiếp tục sửa đổi, bổ sung hoàn thiện các văn bản pháp luật, nhằm tạo môi trường pháp lý phù hợp, tạo động lực cho KTTN phát triển. Trước hết, cần tập trung xây dựng, hoàn thiện hệ thống pháp luật, sửa đổi, bổ sung cơ chế, chính sách liên quan đến phát triển KTTN theo hướng khắc phục có hiệu quả những hạn chế, bất cập nhằm tạo hành lang pháp lý, các luật chuyên ngành, các quyết định, thông tư liên quan tới phát triển KTTN… và các điều kiện thuận lợi cho phát triển KTTN; (iii) Hoàn thiện các chính sách bảo đảm tính bao trùm (inclusive) trong phát triển KTTN với các bộ phận kinh tế khác trên các khía cạnh: Trong việc tiếp cận các cơ hội kinh doanh, trong việc tiếp cận các nguồn lực kinh doanh, trọng tâm là nguồn lực tài chính và đất đai, trong phân phối thu nhập, nhất là chính sách bình đẳng về thuế thực hiện nhanh chóng áp dụng chính sách thuế tối thiểu toàn cầu.

Đối với khu vực FDI

Khu vực FDI tại Việt Nam hiện nay, dù đóng vai trò quan trọng, nhưng vẫn tồn tại hạn chế về chất lượng dòng vốn: (i) Vẫn chủ yếu tập trung gia công sản phẩm có giá trị gia tăng thấp, chuyển giao công nghệ hạn chế, liên kết yếu với doanh nghiệp nội địa, nguy cơ ô nhiễm môi trường và phụ thuộc kinh tế; (ii) Công nghệ sử dụng vẫn chỉ ở mức trung bình hoặc thấp, ít dự án có hoạt động R&D hay chuyển giao tri thức cao; (iii) Liên kết nội địa yếu - Tỷ lệ nội địa hóa thấp, doanh nghiệp FDI chưa kết nối chặt chẽ với doanh nghiệp trong nước, tạo hiệu ứng lan tỏa công nghệ còn hạn chế; (iv) Tác động môi trường: Một số dự án có rủi ro cao về ô nhiễm môi trường, tiềm ẩn chi phí khắc phục hậu quả lớn; Vẫn còn hiện tượng chuyển giá và gian lận thương mại, thể hiện ở nhưng hiện tượng khá phổ biến hiện tượng kê khai lỗ giả để trốn thuế vẫn diễn ra, gây thất thu ngân sách.

Trong thời gian tới, để thực hiện được vai trò là khu vực bổ trợ quan trọng trong phát triển kinh tế đất nước, mà cụ thể là đóng góp vào việc đưa Việt Nam thành trung tâm sản xuất cao cấp, giảm phụ thuộc, nâng cao vị thế trong chuỗi giá trị toàn cầu, định hướng hoàn thiện khu vực FDI cần tập trung vào: (i) Chiến lược FDI mới: Việt Nam chú trọng thu hút các dự án FDI công nghệ cao, công nghệ mới, quản trị hiện đại, có giá trị gia tăng cao (tăng trưởng xanh, bán dẫn, AI), thay vì chỉ tập trung vào gia công giá trị thấp; (ii) Trọng tâm liên kết: Khuyến khích DNNN làm “cầu nối”, tạo điều kiện cho doanh nghiệp FDI liên kết chặt chẽ với doanh nghiệp trong nước, tăng cường nội hóa và nâng cao năng lực nội sinh. Nghị quyết số 79/2026 là bước cập nhật mới nhất về việc tích hợp FDI vào cấu trúc kinh tế tổng thể. Theo đó: khuyến khích DNNN liên kết với khu vực FDI, thúc đẩy chuyển giao công nghệ và tham gia chuỗi cung ứng toàn cầu. Định hướng chính là nâng cao chất lượng FDI, chuyển từ thu hút gia công sang công nghệ cao, xanh và bền vững. Khuyến khích doanh nghiệp FDI liên kết với các doanh nghiệp khác trong chuỗi giá trị thuộc lĩnh vực kinh doanh chính hoặc các doanh nghiệp công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số nhằm hình thành các doanh nghiệp, nhóm liên kết doanh nghiệp tiên phong, dẫn dắt, làm chủ công nghệ lõi, công nghệ chiến lược, phát huy lợi thế, sử dụng có hiệu quả nhất các nguồn lực xã hội, tránh chồng chéo, cạnh tranh không lành mạnh, bảo đảm lợi ích hài hoà, tạo động lực thúc đẩy đổi mới sáng tạo.

Tài liệu tham khảo:

  1. Bộ Kế hoạch và Đầu tư (2023). Niên giám thống kê năm 2024, Nxb Thống kê.
  2. Chính phủ (2024). Thông báo Hội nghị lần thứ 10 Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII.
  3. Đảng Cộng sản Việt Nam (2026). Văn kiện Đại hội Đại biểu lần thứ XIV của Đảng Cộng sản Việt Nam.
  4. E. Wayne Nafziger (1998). Kinh tế học của các nước đang phát triển, Nxb Thống kê.
  5. EC (2014). A Stronger Role of the Private Sector in Achieving Inclusive and Sustainable Growth in Developing Countries, Bruxelles.
  6. IFC (2011). Institutions and Development through Private Sector, World Bank Group
  7. Michal P. Todaro (1997). Kinh tế học cho thế giới thứ Ba, Nxb Giáo dục.
  8. Ngô Thắng Lợi (chủ biên) (2025). Phát triển kinh tế tư nhân của người Việt nam trong định hướng và tầm nhìn phát tiển mới, Nxb Chính trị Quốc gia Sự thật.
  9. Nguyễn Phú Trọng (2022). Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam, Nxb Chính trị Quốc gia Sự thật.
  10. Tô Lâm (2025). Phát triển kinh tế tư nhân - đòn bẩy cho một Việt Nam thịnh vượng, https://baochinhphu.vn/phat-trien-kinh-te-tu-nhan-don-bay-cho-mot-viet-nam-thinh-vuong-10225031716522207.htm
  11. V.I. Lê nin (1978). Lê Nin toàn tập, tập 43, Nxb Tiến Bộ.
  12. VCCI (2023). Báo cáo thường niên doanh nghiệp Việt Nam 2022/2023/2024: Năng lực động của doanh nghiệp Việt Nam: Hiện trạng, vị trí trong chuỗi giá trị toàn cầu.
Bài đã đăng trên Tạp chí Kinh tế - Tài chính bản in Kỳ 1 - Tháng 3/2026
GS.TS.Ngô Thắng Lợi - PGS.TS .Vũ Thành Hưởng
Thích

Video