Chi tiết tin tức
A- A A+ | Trong Tăng tương phản Giảm tương phản

Ngân hàng chung tay giảm lãi suất, thể hiện trách nhiệm cùng thị trường

Giảm lãi suất không chỉ là câu chuyện của những con số, mà còn là bài toán về trách nhiệm và sự thấu cảm của ngành Ngân hàng trước nhịp đập chung của nền kinh tế. Trong bối cảnh nhiều ngân hàng vừa phải bảo đảm nguồn vốn, vừa muốn duy trì tăng trưởng tín dụng, thông điệp đã rõ: Giảm lãi suất phải thực chất, nếu không, chính dư địa tăng trưởng của các nhà băng có thể bị thu hẹp.

Giảm lãi suất không chỉ là câu chuyện của những con số, mà còn là bài toán về trách nhiệm và sự thấu cảm của ngành Ngân hàng trước nhịp đập chung của nền kinh tế. Trong bối cảnh nhiều ngân hàng vừa phải bảo đảm nguồn vốn, vừa muốn duy trì tăng trưởng tín dụng, thông điệp đã rõ: Giảm lãi suất phải thực chất, nếu không, chính dư địa tăng trưởng của các nhà băng có thể bị thu hẹp.

Siết kỷ luật lãi suất, chuyển cam kết thành con số cụ thể

Ngày 21/10/2026, NHNN ban hành Công văn số 9736/NHNN-CSTT, tiếp tục yêu cầu các ngân hàng thương mại triển khai quyết liệt nhiệm vụ giảm mặt bằng lãi suất theo chỉ đạo của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ và kết luận của Thống đốc NHNN tại cuộc họp ngày 19/10.

Điểm đáng chú ý là yêu cầu giảm lãi suất lần này không dừng ở định hướng chung. Các ngân hàng phải giảm tối thiểu 0,5%/năm lãi suất tiền gửi bình quân của những giao dịch phát sinh mới đối với kỳ hạn từ 6 tháng trở lên trong những tháng cuối năm 2026, so với mức của chính ngân hàng tại kỳ báo cáo từ ngày 11 đến 20/10/2026.

Để tránh tình trạng giảm trên biểu lãi suất nhưng hiệu quả thực tế không tương xứng, NHNN sẽ theo dõi số liệu bình quân của các giao dịch phát sinh mới thông qua hệ thống báo cáo thống kê theo Công văn số 6194/NHNN-DBTK ngày 7/8/2023.

Đặc biệt, cơ quan quản lý nhấn mạnh trách nhiệm của các ngân hàng trước pháp luật, Thống đốc NHNN và các cấp có thẩm quyền. Trường hợp không thực hiện chỉ đạo, ngân hàng có thể bị áp dụng biện pháp xử lý nghiêm, bao gồm xem xét giảm hoặc giao thấp chỉ tiêu tăng trưởng tín dụng.

Đây là chi tiết khiến yêu cầu hạ lãi suất trở nên đáng chú ý hơn. Bởi với ngân hàng, tăng trưởng tín dụng không chỉ quyết định quy mô tài sản sinh lời mà còn ảnh hưởng trực tiếp đến khả năng mở rộng hoạt động và lợi nhuận. Khi dư địa tăng trưởng bị thu hẹp, chi phí của việc không tuân thủ có thể lớn hơn lợi ích ngắn hạn từ việc duy trì lãi suất huy động cao.

Nói cách khác, NHNN đang đặt các ngân hàng trước yêu cầu cân bằng lại mục tiêu lợi nhuận với nhiệm vụ hỗ trợ nền kinh tế thông qua mặt bằng lãi suất hợp lý.

Lãi suất huy động hạ nhiệt, cuộc đua giảm lãi suất tăng tốc

Sau các chỉ đạo liên tiếp, nhiều ngân hàng đã điều chỉnh lãi suất huy động và công bố những chương trình tín dụng ưu đãi. Xu hướng chung là tập trung giảm lãi suất tiền gửi kỳ hạn từ 6 tháng trở lên, trong khi các kỳ hạn ngắn được giữ ổn định tại nhiều nhà băng.

Ở nhóm ngân hàng thương mại nhà nước, Agribank, Vietcombank, BIDV và VietinBank đã điều chỉnh giảm lãi suất huy động tại quầy, trong khi lãi suất trực tuyến vẫn được giữ nguyên theo thông tin ghi nhận. Mặt bằng là 6,6%/năm đối với kỳ hạn 6-11 tháng và 6,8%/năm đối với kỳ hạn từ 12 tháng.

Tại nhóm ngân hàng thương mại cổ phần, nhiều đơn vị như: ABBank, MBV, PVcomBank, SHB, MB, SeABank, ACB, TPBank, Sacombank, OCB, NCB và Bac A Bank cũng được ghi nhận điều chỉnh lãi suất trong các ngày 20-21/10. Diễn biến này cho thấy yêu cầu của NHNN đã nhanh chóng tác động đến quyết định kinh doanh của các tổ chức tín dụng.

Ở chiều cho vay, MSB triển khai gói tín dụng dành cho khách hàng doanh nghiệp quy mô lên tới 10.000 tỷ đồng, với lãi suất bằng đồng Việt Nam từ 7,5%/năm và mức giảm tối thiểu 2 điểm phần trăm/năm so với lãi suất thông thường, tùy điều kiện áp dụng. Đồng thời, ngân hàng giảm 0,5 điểm phần trăm/năm lãi suất huy động đối với các kỳ hạn từ 6 tháng trở lên theo chính sách của mình.

Còn VIB triển khai gói tín dụng 15.000 tỷ đồng cho doanh nghiệp thuộc các lĩnh vực ưu tiên, với mức giảm lãi suất cho vay lên tới 1,5 điểm phần trăm/năm. Nguồn vốn hướng đến công nghiệp hỗ trợ, sản xuất vật liệu, linh kiện, hạ tầng, đầu tư công, năng lượng tái tạo và xuất khẩu.

Trong khi đó, từ ngày 26/10/2026, VPBank dự kiến áp dụng chương trình giảm 1,5 điểm phần trăm lãi suất cho vay đối với khách hàng cá nhân hoạt động trong 6 nhóm ngành nghề trọng điểm. Ngân hàng cũng dành hạn mức 10.000 tỷ đồng để giảm lãi suất tới 1,5 điểm phần trăm/năm cho doanh nghiệp nhỏ và vừa vay bổ sung vốn lưu động. Ở chiều huy động, VPBank đã giảm 0,5 điểm phần trăm/năm lãi suất tiết kiệm trực tuyến tại các kỳ hạn 15 và 18 tháng từ ngày 20/10.

Những chương trình này cho thấy các ngân hàng đang chủ động chia sẻ một phần chi phí vốn với khách hàng. Tuy nhiên, mức lãi suất ưu đãi thường đi kèm điều kiện về đối tượng, ngành nghề, mục đích sử dụng vốn và thời hạn áp dụng; do đó, không nên đồng nhất lãi suất quảng bá của từng gói với mặt bằng cho vay chung của toàn thị trường.

vnd.jpg

Ngân hàng chung tay giảm lãi suất, thắt chặt trách nhiệm cùng thị trường

Bài toán khó nhất vẫn là chi phí vốn

Sức ép giảm lãi suất xuất hiện trong bối cảnh chi phí huy động đã tăng đáng kể trong những tháng trước đó. Số liệu công bố tháng 8, lãi suất tiền gửi bình quân đối với các khoản tiền gửi tại kỳ hạn từ 6 tháng trở lên tăng khoảng 20-40 điểm cơ bản so với cuối quý II/2026, tương đương mức tăng 110-210 điểm cơ bản so với cuối năm 2025. Lãi suất cho vay cũng tăng khoảng 20-30 điểm cơ bản trong tháng 7 và tháng 8 so với cuối quý trước.

Những diễn biến này cho thấy bài toán giảm lãi suất không đơn giản là điều chỉnh một vài mức niêm yết. Khi chi phí đầu vào tăng, ngân hàng phải cân đối giữa khả năng giữ chân người gửi tiền, nhu cầu thanh khoản, biên lãi ròng và yêu cầu hỗ trợ doanh nghiệp. Nếu lãi suất huy động giảm nhưng các chi phí khác vẫn cao, khả năng giảm lãi suất cho vay trên diện rộng sẽ bị hạn chế.

Bởi vậy, yêu cầu giảm tối thiểu 0,5 điểm phần trăm/năm ở nhóm tiền gửi kỳ hạn từ 6 tháng trở lên có ý nghĩa như bước khởi đầu để tháo gỡ nút thắt chi phí vốn. Song hiệu quả cuối cùng phải được đánh giá bằng mức lãi suất thực tế mà doanh nghiệp và người dân được tiếp cận, chứ không chỉ bằng số lần ngân hàng điều chỉnh biểu lãi suất.

Theo định hướng được Công văn số 9608/NHNN-CSTT ngày 18/10/2026 còn đặt ra yêu cầu giảm lãi suất cho vay khoảng 1,5–2 điểm phần trăm/năm đối với lĩnh vực sản xuất và các nhóm ưu tiên. Đây là mục tiêu có ý nghĩa trực tiếp với khả năng phục hồi sản xuất, mở rộng đầu tư và duy trì dòng tiền của doanh nghiệp.

Muốn giảm lãi suất bền vững, phải khơi thông nguồn vốn. Về dài hạn, giảm lãi suất cho vay không thể chỉ dựa vào mệnh lệnh hành chính. Cần khắc phục những điểm rò rỉ làm hao hụt cung tiền, mở rộng các chương trình tái cấp vốn với chi phí hợp lý và xây dựng cơ chế huy động, cung ứng vốn hiệu quả cho các dự án phát triển.

Một hướng đi khác là tăng vốn chủ sở hữu để củng cố năng lực tài chính và giảm sự phụ thuộc quá lớn vào tiền gửi. Theo ước tính của SSI Research, 8 ngân hàng gồm: NCB, BIDV, Vietcombank, HDBank, VPBank, MB, PVcomBank và MSB đang lên kế hoạch phát hành cổ phiếu từ quý IV/2026 đến năm 2027, với tổng giá trị dự kiến 143.830 tỷ đồng. Nếu triển khai thành công, nguồn vốn bổ sung sẽ giúp các ngân hàng mở rộng khả năng huy động, tăng dư địa tín dụng và nâng cao năng lực hấp thụ rủi ro.

Dù vậy, tăng vốn hay tái cấp vốn đều cần thời gian và phụ thuộc vào điều kiện thị trường. Trong ngắn hạn, các ngân hàng vẫn phải đồng thời kiểm soát chi phí hoạt động, phân bổ tín dụng hiệu quả và bảo đảm an toàn thanh khoản.

Thông điệp từ NHNN vì thế không chỉ nằm ở con số giảm 0,5 điểm phần trăm/năm. Điều quan trọng hơn là yêu cầu chuyển sự đồng thuận thành kết quả có thể đo lường, trong khi gắn trách nhiệm thực hiện với một công cụ quản lý có sức nặng chỉ tiêu tăng trưởng tín dụng.

Khi chi phí vốn hạ nhiệt, ngân hàng có thêm dư địa giảm lãi suất cho vay; doanh nghiệp có cơ hội tiếp cận vốn rẻ hơn, còn nền kinh tế được hỗ trợ phục hồi. Nhưng nếu việc giảm lãi suất chỉ dừng ở các gói ưu đãi riêng lẻ, tác động sẽ khó lan tỏa rộng. Thước đo quyết định vẫn là mặt bằng lãi suất thực tế có giảm hay không, mức giảm có đến được với người vay đủ điều kiện hay không và xu hướng ấy có duy trì được mà không làm suy yếu an toàn hệ thống hay không.