Dòng vốn ngân hàng ở Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) đang chuyển hướng mạnh sang tài trợ cho những ngành, những chuỗi giá trị và những dự án có khả năng tạo ra cực tăng trưởng mới. Sự dịch chuyển này không chỉ làm thay đổi cấu trúc tín dụng mà còn mở ra cách tiếp cận hoàn toàn mới trong phát triển kinh tế vùng.
Từ “tư duy sản lượng” sang “tư duy giá trị”
Nhiều năm qua, Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) luôn được mặc định là “vùng trũng” tiêu thụ vốn ngắn hạn phục vụ cho các chu kỳ canh tác nông nghiệp thuần túy. Nhưng bước sang nửa đầu năm 2026, định kiến này đang bị phá vỡ. Số liệu từ Ngân hàng Nhà nước (NHNN) chi nhánh các Khu vực 13, 14 và 15 cho thấy dòng vốn cho vay nông nghiệp, nông thôn vẫn giữ vai trò dẫn dắt toàn vùng, chiếm tỷ trọng lớn trong cơ cấu dư nợ. Điểm cốt lõi là cấu trúc bên trong dòng vốn này đã thay đổi căn bản.
Tính đến cuối tháng 6/2026, tăng trưởng tín dụng toàn hệ thống đạt 7,41%, bơm hơn 1,35 triệu tỷ đồng vào nền kinh tế. Tuy nhiên, câu chuyện dòng vốn tại ĐBSCL không còn nằm ở những con số tăng trưởng cơ học, mà là một sự chuyển dịch cấu trúc mang tính chiến lược. Dòng vốn ngân hàng đang dứt khoát bước qua giai đoạn “rải đều” cho nông nghiệp truyền thống để tập trung đổ dồn về các “cực tăng trưởng” mới: Nông nghiệp công nghệ cao, chuỗi liên kết lúa gạo phát thải thấp, hạ tầng logistics và năng lượng tái tạo. Đây chính là bệ đỡ giúp định vị lại vị thế toàn vùng trong kỷ nguyên tăng trưởng xanh.
Thay vì tài trợ cho thương lái thu mua nhỏ lẻ, dòng vốn lớn đang hướng mạnh vào Đề án 1 triệu ha lúa chất lượng cao, phát thải thấp. Tại TP. Cần Thơ và các tỉnh vùng lõi như Đồng Tháp, An Giang, các chương trình tín dụng chuyên biệt bước đầu đã giải ngân thành công cho các hợp tác xã (HTX) và doanh nghiệp đầu mối tham gia chuỗi liên kết. Sự bứt phá thể hiện rõ nét nhất ở ngành rau quả thúc đẩy chế biến sâu, khi dư nợ toàn vùng tăng trưởng ấn tượng, trở thành bệ đỡ đưa kim ngạch xuất khẩu của các địa phương như Đồng Tháp tăng vọt.
Đây là minh chứng rõ ràng nhất cho thấy tín dụng ngân hàng đang đồng hành cùng khu vực trong việc đoạn tuyệt với tư duy chạy theo sản lượng để tiến vào tư duy chất lượng và giá trị gia tăng.

Dòng vốn ngân hàng vùng Đồng bằng sông Cửu Long. Nguồn: baochinhphu.vn
ĐBSCL không chỉ có lúa và tôm. Động lực bứt phá mạnh mẽ nhất giúp vùng chuyển mình thành một cực tăng trưởng mới của cả nước chính là làn sóng đầu tư vào năng lượng sạch và hạ tầng logistics.
Tính đến tháng 6/2026, vùng ven biển Cà Mau và các khu vực duyên hải ĐBSCL chứng kiến các dự án điện gió quy mô hàng chục nghìn tỷ đồng tăng tốc triển khai nhờ trợ lực vốn trung và dài hạn từ hệ thống ngân hàng. Điển hình như Cà Mau hiện tiếp tục vận hành thương mại ổn định hàng trăm MW điện gió, tạo bệ phóng cho các đề án sản xuất amoniac và hydrogen xanh. Song song đó, nhu cầu vốn cho hệ thống cảng biển, kho lạnh phục vụ xuất khẩu tại TP. Cần Thơ cũng được các ngân hàng thương mại tích cực tài trợ thông qua các gói tín dụng hợp vốn.
Việc dòng vốn dịch chuyển vào các dự án hạ tầng chiến lược này không chỉ giải quyết điểm nghẽn giao thương cốt tử của vùng, mà còn tạo ra tính lan tỏa, kết nối kinh tế ĐBSCL với vùng kinh tế trọng điểm Đông Nam Bộ.
Tháo gỡ áp lực kỳ hạn để khơi thông dòng vốn dài hạn
Bên cạnh những mảng màu sáng, thực tế vận hành dòng vốn tại ĐBSCL nửa đầu năm 2026 vẫn vấp phải rào cản lớn sự lệch pha về kỳ hạn. Các dự án hạ tầng logistics, năng lượng tái tạo hay chuyển đổi nông nghiệp xanh đều đòi hỏi nguồn vốn trung và dài hạn lên tới hàng chục năm. Trong khi đó, cơ cấu nguồn vốn huy động của các tổ chức tín dụng chủ yếu lại là ngắn hạn.
Để giải bài toán này, động thái mới nhất của NHNN cho phép các ngân hàng nâng tỷ lệ tối đa nguồn vốn ngắn hạn cho vay trung dài hạn lên 40% được xem là giải pháp giải nhiệt cho các dự án lớn. Đồng thời, cơ chế loại trừ tính tăng trưởng tín dụng đối với các khoản cho vay dự án hạ tầng trọng điểm quốc gia áp dụng trong năm 2026 đang tạo thêm dư địa đáng kể để các ngân hàng thương mại mạnh dạn “rót tiền” vào miền Tây.
Theo các chuyên gia kinh tế - tài chính, tăng trưởng tín dụng chỉ thực sự có ý nghĩa khi dòng vốn đi vào khu vực sản xuất, xuất khẩu và các lĩnh vực tạo ra năng suất mới. Đối với vùng ĐBSCL, việc điều hành chính sách tiền tệ và tín dụng trong nửa cuối năm 2026 cần tập trung vào 3 giải pháp đột phá sau:
Một là chuẩn hóa tiêu chí xanh để mở rộng “room” tín dụng: Cần sớm ban hành danh mục phân loại xanh quốc gia để làm căn cứ cho các ngân hàng thương mại mạnh dạn áp dụng cơ chế ưu đãi lãi suất, cũng như loại trừ room tín dụng đối với các dự án sinh kế bền vững tại ĐBSCL.
Hai là khuyến khích dòng vốn hợp vốn (Syndicated Loan): Với các siêu dự án về logistics cảng biển và điện gió ngoài khơi tại TP. Cần Thơ hay tỉnh Cà Mau, một ngân hàng đơn lẻ khó gánh hết rủi ro giới hạn cấp tín dụng. NHNN cần thúc đẩy mạnh mẽ hơn nữa cơ chế hợp vốn giữa các ngân hàng thương mại lớn để chia sẻ rủi ro và tối ưu hóa hiệu quả dòng vốn.
Ba là thiết kế gói bảo hiểm rủi ro nông nghiệp đi kèm tín dụng: Nông nghiệp ĐBSCL đối mặt lớn với rủi ro thiên tai và biến đổi khí hậu. Nếu không có các gói bảo hiểm nông nghiệp đồng hành, các ngân hàng sẽ rất e dè khi giải ngân dài hạn cho mô hình 1 triệu ha lúa hay thủy sản công nghệ cao. Chính sách tín dụng cần liên kết chặt chẽ với chính sách tài khóa để hỗ trợ phí bảo hiểm cho các HTX tiên phong.
Khi tín dụng gắn chặt với chiến lược phát triển vùng, dòng vốn ngân hàng không còn là những khoản vay ngắn hạn chắp vá. Nó đang trở thành xung lực định vị lại vị thế toàn vùng, biến ĐBSCL từ một vùng thuần nông thành một cực tăng trưởng hiện đại, xanh và bền vững của nền kinh tế Việt Nam.

