Chi tiết tin tức
A- A A+ | Tăng tương phản Giảm tương phản

Bài toán thanh khoản: Làm sao để dòng tiền không mắc kẹt?

Bài toán thanh khoản: Làm sao để dòng tiền không mắc kẹt?

Bài toán thanh khoản: Làm sao để dòng tiền không mắc kẹt?
Ảnh minh hoạ.

Áp lực thanh khoản vẫn gia tăng

Theo Báo cáo tình hình kinh tế - xã hội tháng 5 và 5 tháng đầu năm 2026 của Bộ Tài chính, đến ngày 29/5/2026, dư nợ tín dụng toàn nền kinh tế đạt khoảng 19,66 triệu tỷ đồng, tăng 5,71% so với cuối năm 2025, trong khi huy động vốn của các tổ chức tín dụng chỉ tăng 2,98%.

Khoảng cách giữa tăng trưởng tín dụng và huy động vốn tiếp tục nới rộng, phản ánh nhu cầu vốn của nền kinh tế đang phục hồi nhanh hơn khả năng tạo lập nguồn vốn của hệ thống ngân hàng.

Xu hướng này cũng được ghi nhận trong Báo cáo ngành Ngân hàng quý I/2026 của Công ty Chứng khoán SHS. Báo cáo cho biết tăng trưởng tín dụng toàn hệ thống đến cuối quý I đạt 3,18%, tương đương khoảng 21% mục tiêu tăng trưởng tín dụng cả năm, trong khi khả năng huy động vốn trở thành yếu tố giới hạn mới đối với hoạt động cho vay.

Đáng chú ý, tỷ lệ cho vay trên huy động (LDR) bằng đồng Việt Nam của toàn hệ thống đã tăng lên khoảng 112% vào cuối quý I/2026. Theo SHS, thanh khoản toàn hệ thống đã xuất hiện dấu hiệu căng thẳng từ cuối tháng 3 khi chênh lệch giữa tín dụng và huy động lên tới hơn 1,9 triệu tỷ đồng.

Áp lực thanh khoản cũng kéo theo cuộc đua lãi suất huy động. Báo cáo của SHS cho biết nhiều ngân hàng từng đưa lãi suất huy động thực tế lên mức 8-9%/năm đối với kỳ hạn 6-12 tháng, tăng khoảng 1-2 điểm phần trăm so với cuối năm 2025 nhằm thu hút dòng tiền gửi.

Trong khi đó, Bản tin Kinh tế - Tài chính - Tiền tệ tuần cuối tháng 5/2026 của Hiệp hội Ngân hàng Việt Nam (VNBA) cũng cho thấy NHNN phải liên tục hỗ trợ thanh khoản cho thị trường thông qua hoạt động thị trường mở. Chỉ riêng tuần cuối tháng 5, NHNN đã bơm ròng hơn 30.700 tỷ đồng ra hệ thống ngân hàng.

Những con số trên cho thấy hệ thống ngân hàng vẫn đang đáp ứng được nhu cầu vốn của nền kinh tế, song dư địa thanh khoản không còn dồi dào như giai đoạn trước. Nếu tín dụng tiếp tục tăng nhanh trong khi huy động vốn cải thiện chậm, áp lực lên lãi suất và nguồn vốn trung - dài hạn sẽ ngày càng rõ nét hơn.

Đưa vốn đến đúng địa chỉ

Áp lực thanh khoản gia tăng cũng đặt ra bài toán về hiệu quả phân bổ dòng vốn trong nền kinh tế. Khi tăng trưởng tín dụng đang vượt xa tốc độ huy động vốn, khả năng mở rộng cho vay đại trà không còn nhiều dư địa như giai đoạn trước.

Nhiều chuyên gia cho rằng giai đoạn “tiền rẻ” đã cơ bản khép lại. Theo chuyên gia kinh tế TS. Huỳnh Trung Minh, từ cuối năm 2025 đến nay, lãi suất huy động đã bước vào chu kỳ tăng mới khi các ngân hàng phải cạnh tranh mạnh hơn để thu hút dòng tiền trong bối cảnh người dân có thêm nhiều lựa chọn đầu tư như vàng, bất động sản hay các kênh tài sản khác.

Thực tế, áp lực huy động vốn không chỉ xuất phát từ nhu cầu tín dụng gia tăng mà còn liên quan đến yêu cầu duy trì ổn định tỷ giá và kiểm soát lạm phát. Chuyên gia kinh tế TS. Nguyễn Trí Hiếu cho rằng, mặt bằng lãi suất hiện nay là kết quả của bài toán cân bằng giữa hỗ trợ tăng trưởng và bảo vệ sự ổn định vĩ mô. Khi lãi suất tiền đồng được duy trì ở mức đủ hấp dẫn, áp lực chuyển dịch sang nắm giữ ngoại tệ sẽ giảm bớt, qua đó góp phần ổn định tỷ giá.

Chính vì vậy, thay vì mở rộng tín dụng theo chiều rộng, nhiều chuyên gia cho rằng cần ưu tiên phân bổ dòng vốn vào các lĩnh vực tạo ra giá trị gia tăng cao cho nền kinh tế. Tại phiên họp Chính phủ thường kỳ tháng 5/2026, Thủ tướng Chính phủ đã yêu cầu Ngân hàng Nhà nước tập trung bố trí tín dụng cho các dự án trọng điểm quốc gia, đồng thời xây dựng phương án cung ứng vốn cho nhà ở xã hội, nhà ở cho thuê và các lĩnh vực phục vụ nhu cầu thực.

Ngoài ra, nhiều chuyên gia cho rằng bài toán hiện nay không chỉ là mở rộng tín dụng mà còn là nâng cao khả năng hấp thụ vốn của doanh nghiệp. Thực tế cho thấy, không ít doanh nghiệp nhỏ và vừa vẫn gặp khó khăn trong tiếp cận tín dụng dù nhu cầu vốn phục hồi. Nguyên nhân chủ yếu đến từ hạn chế về tài sản bảo đảm, năng lực tài chính chưa đáp ứng yêu cầu thẩm định hoặc thiếu tính minh bạch trong báo cáo dòng tiền. Vì thế, các doanh nghiệp đề nghị, cần phát huy hiệu quả hơn vai trò của các quỹ bảo lãnh tín dụng cho doanh nghiệp nhỏ và vừa, giúp doanh nghiệp có thể tiếp cận vốn dựa trên phương án sản xuất kinh doanh thay vì phụ thuộc hoàn toàn vào tài sản thế chấp.

Bên cạnh đó, các chương trình kết nối ngân hàng - doanh nghiệp tiếp tục được xem là kênh quan trọng để tháo gỡ khó khăn về vốn. Thông qua cơ chế đối thoại trực tiếp, nhiều doanh nghiệp đã được cơ cấu lại thời hạn trả nợ, giảm lãi suất hoặc tiếp cận các gói tín dụng phù hợp với nhu cầu sản xuất, kinh doanh.

Rõ ràng, dòng vốn cần được ưu tiên nhiều hơn cho sản xuất, xuất khẩu, hạ tầng, công nghiệp hỗ trợ và các dự án có khả năng tạo hiệu ứng lan tỏa cho nền kinh tế, thay vì chảy mạnh vào các lĩnh vực có tính đầu cơ cao. Trong bối cảnh nguồn vốn huy động không còn tăng nhanh như trước, việc nâng cao hiệu quả sử dụng vốn được xem là yếu tố quan trọng không kém so với mục tiêu tăng trưởng tín dụng.

Hương Dịu
Thích