Chi tiết tin tức
A- A A+ | Trong Tăng tương phản Giảm tương phản

Dữ liệu, học liệu số nâng chất lượng giáo dục đại học

Việc xây dựng hệ thống học liệu số đang mở thêm không gian học tập cho sinh viên, tạo nền tảng để các trường nâng chất lượng dạy học

Đội ngũ xây dựng môn học trên hệ thống VNU-MOOC ghi hình giả lập tại studio. Ảnh: VNUHCM.
Đội ngũ xây dựng môn học trên hệ thống VNU-MOOC ghi hình giả lập tại studio. Ảnh: VNUHCM.

Từ kho học liệu số đến không gian học tập mở

Từ năm học 2026-2027, Đại học Quốc gia TPHCM triển khai 33 môn học trên hệ thống đào tạo trực tuyến VNU-MOOC, thuộc nhiều lĩnh vực như lý luận chính trị, công nghệ thông tin, khoa học cơ bản, khoa học xã hội, kinh tế - kinh doanh và sức khỏe.

Được xây dựng từ năm 2023 trong lộ trình chuyển đổi số hoạt động đào tạo, VNU-MOOC hiện có gần 5.000 bài học với các hoạt động tương tác, giúp sinh viên học, thực hành và củng cố kiến thức.

Hầu hết bài giảng không quá 15 phút, tập trung vào nội dung trọng tâm, tạo điều kiện để người học chủ động lựa chọn thời gian, tiến độ và xem lại những nội dung chưa nắm vững.

Sự đa dạng về lĩnh vực cũng giúp sinh viên mở rộng kiến thức ngoài chuyên ngành. Sinh viên khối ngành khoa học xã hội có thể bổ sung kỹ năng số, lập trình hoặc phân tích dữ liệu; trong khi sinh viên khoa học tự nhiên và công nghệ có thể tìm hiểu thêm về kinh tế, xã hội hoặc sức khỏe.

mooc.jpg

Các bài giảng trên hệ thống đào tạo trực tuyến VNU-MOOC. Ảnh: VNUHCM.

Các môn học trên VNU-MOOC được đội ngũ chuyên gia, giảng viên từ các cơ sở đào tạo thuộc Đại học Quốc gia TPHCM cùng xây dựng.

Các môn học được triển khai cho sinh viên tại các cơ sở đào tạo thuộc Đại học Quốc gia TPHCM. Tùy mục tiêu môn học, kế hoạch đào tạo và quy định của từng cơ sở, sinh viên có thể sử dụng theo ba hình thức: học liệu bổ trợ, học tập kết hợp hoặc học và tích lũy tín chỉ.

Năm 2025, VNU-MOOC được thí điểm tại Trường Đại học Kinh tế - Luật và Trường Phổ thông Năng khiếu với các môn từ Tư tưởng Hồ Chí Minh, Kinh tế vi mô, Tâm lý học, Đại số tuyến tính, Giải tích, Xác suất thống kê đến Phân tích dữ liệu với Python, Cơ sở dữ liệu, Hóa học, Vật lý và Sinh đại cương.

Tại Trường Đại học Kinh tế - Luật, 5 khóa học thu hút 3.057 sinh viên đăng ký, trong đó 2.803 sinh viên hoàn thành, đạt 92,7%. Trường Phổ thông Năng khiếu ghi nhận 467 lượt học và 127 lượt đăng ký thi cuối khóa.

Từ nền tảng riêng đến hệ sinh thái học liệu

Nếu VNU-MOOC cho thấy giá trị của kho học liệu dùng chung ở quy mô hệ thống, tại từng trường đại học, các nền tảng số cũng đang được phát triển theo hướng tổ chức lại cách học và quản lý đào tạo.

Từ học kỳ I năm học 2026-2027, Trường Đại học Công Thương TPHCM triển khai phương thức E-learning trên nền tảng HUITx do nhà trường xây dựng và quản lý.

HUITx tích hợp học liệu, video bài giảng, câu hỏi tương tác, diễn đàn trao đổi và công cụ theo dõi tiến độ, giúp sinh viên chủ động học tập và hỗ trợ nhà trường từng bước đồng bộ quản lý, đào tạo trên nền tảng số.

Các học phần E-learning được tổ chức theo mô hình kết hợp, với 70%-80% thời lượng dành cho sinh viên tự học trên HUITx và 20%-30% còn lại là các buổi học trực tiếp hoặc trực tuyến qua Zoom.

Sinh viên được hướng dẫn phương pháp học, cách thức đánh giá ngay từ đầu học phần; học phí thấp hơn 5% so với học phần trực tiếp tương đương.

huitx.jpg

Giao diện nền tảng HUITx của Trường Đại học Công Thương TPHCM dành cho phương thức học tập e-learning. Ảnh: HUIT.

Tại Trường Đại học Lạc Hồng (TP Đồng Nai), chuyển đổi số cũng được đặt trong bài toán xây dựng hệ sinh thái học liệu có khả năng cập nhật, khai thác và chia sẻ.

Nhà trường từng bước xây dựng hệ thống học tập số thông qua LMS, phát triển học liệu điện tử và triển khai các giải pháp ứng dụng trí tuệ nhân tạo hỗ trợ giảng viên, sinh viên. Một số học liệu có giá trị cao được phát triển với sự hỗ trợ của Trường Đại học Bang Arizona (Hoa Kỳ).

Theo PGS.TS Nguyễn Vũ Quỳnh, Phó Hiệu trưởng Trường Đại học Lạc Hồng, tác động lớn nhất của kho học liệu số dùng chung là chuyển từ tình trạng mỗi giảng viên, mỗi lớp sử dụng nguồn tài liệu riêng sang mô hình người học được tiếp cận nguồn học liệu chuẩn hóa, liên tục cập nhật.

Với giảng viên, học liệu chuẩn giúp giảm thời gian tìm kiếm, biên soạn nội dung cốt lõi để dành nhiều thời gian hơn cho hướng dẫn, thảo luận, thực hành và cá nhân hóa việc học.

Với sinh viên, đó là khả năng học mọi lúc, mọi nơi, chủ động học trước, học lại và bổ sung kiến thức theo nhu cầu.

Với nhà trường, dữ liệu học tập số giúp theo dõi quá trình học tập, hỗ trợ cải tiến chương trình, đánh giá chất lượng và phát hiện sớm vấn đề.

Chuẩn hóa để liên thông dữ liệu

Ở quy mô lớn hơn, khi dữ liệu được chuẩn hóa và liên thông, các cơ sở đào tạo có thể kết nối chương trình, học liệu và kết quả học tập, giúp người học không còn bị giới hạn bởi ranh giới của một trường đại học.

Theo PGS.TS Nguyễn Vũ Quỳnh, để kho học liệu dùng chung trở thành một hệ sinh thái trên toàn quốc, cần chuyển từ “chuẩn hóa giáo trình” sang “chuẩn hóa và liên thông dữ liệu giáo dục đại học”.

Trước hết là thống nhất chuẩn về mã học phần, chuẩn đầu ra, cấu trúc học liệu và dữ liệu học tập; xây dựng hạ tầng để các LMS và hệ thống quản trị có thể liên thông; đồng thời hoàn thiện cơ chế về bản quyền, quyền khai thác và chia sẻ học liệu.

Cùng với đó, cần thí điểm cơ chế công nhận kết quả học tập liên trường. Khi sinh viên hoàn thành một học phần tại một cơ sở đào tạo và đáp ứng chuẩn chương trình, kết quả đó cần từng bước được công nhận tại cơ sở khác theo những tiêu chí thống nhất.

Giá trị của học liệu số không chỉ nằm ở việc có thêm một kho tài nguyên trực tuyến, mà ở khả năng biến những tài nguyên riêng lẻ thành dữ liệu có cấu trúc, có thể kết nối và tái sử dụng. Đây cũng là bước chuyển từ số hóa hoạt động dạy học sang xây dựng hạ tầng học tập có khả năng dùng chung trong giáo dục đại học.