![]() |
| Giờ học tại Trường THPT Nguyễn Huệ (Vĩnh Long). Ảnh: NTCC |
Các nhà giáo, cán bộ quản lý giáo dục đề xuất ứng dụng công nghệ, chuẩn hóa minh chứng và tập huấn thực chất để các cơ sở giáo dục triển khai hiệu quả, bền vững.
Thay đổi trong tư duy quản trị nhà trường
Nghiên cứu dự thảo Thông tư quy định về bảo đảm chất lượng giáo dục và công nhận đạt chuẩn quốc gia đối với cơ sở giáo dục mầm non, cơ sở giáo dục phổ thông và cơ sở giáo dục thường xuyên, ông Phan Trọng Hải - Phó Hiệu trưởng Trường THPT Nguyễn Huệ (Vĩnh Long) cho rằng, việc lấy kết quả tự đánh giá làm căn cứ quan trọng nhất để công nhận trường chuẩn quốc gia giúp thay đổi về chất trong tư duy quản trị nhà trường.
Với quy định trong dự thảo, hoạt động tự đánh giá không chỉ là thủ tục định kỳ chuẩn bị cho các đợt đánh giá ngoài, mà trở thành nhiệm vụ thường xuyên, buộc nhà trường phải tự soi, tự sửa hằng năm. Điều này giúp bộ máy quản lý nắm chắc thực trạng điểm mạnh, điểm yếu để điều chỉnh kế hoạch chiến lược kịp thời.
Đồng thời, việc tích hợp các tiêu chí vào quy trình bảo đảm chất lượng cũng yêu cầu nhà trường vận hành dựa trên minh chứng thực tế, thay vì các báo cáo mang tính hình thức. Vai trò, trách nhiệm của hiệu trưởng cùng đội ngũ quản lý được nâng cao, đặc biệt trong việc bảo đảm tính trung thực của kết quả tự đánh giá, qua đó thúc đẩy xây dựng văn hóa chất lượng thực chất trong toàn trường.
Đánh giá thuận lợi nếu triển khai quy định mới, theo ông Phan Trọng Hải, việc áp dụng một khung yêu cầu bảo đảm chất lượng chung cho cả giáo dục mầm non, phổ thông, giáo dục thường xuyên giúp cơ quan quản lý dễ theo dõi, hỗ trợ, đồng thời giảm chồng chéo trong các văn bản hướng dẫn. Quy định cho phép sử dụng minh chứng điện tử và dữ liệu số góp phần giảm áp lực hồ sơ giấy, tiết kiệm thời gian, nguồn lực cho giáo viên. Việc phân cấp thẩm quyền công nhận về giám đốc sở GD&ĐT giúp quy trình trở nên linh hoạt, sát thực tiễn địa phương hơn.
Tuy nhiên, việc triển khai có những thách thức bởi không phải cơ sở giáo dục nào có đội ngũ chuyên trách đủ năng lực để phân tích số liệu, đánh giá chất lượng một cách khách quan, khoa học. Các tiêu chuẩn về cơ sở vật chất, đội ngũ (đặc biệt tỷ lệ giáo viên/lớp và trình độ đạt chuẩn) vẫn là bài toán khó đối với trường khu vực nội đô đông dân cư hoặc vùng sâu, xa. Khi tự đánh giá là căn cứ quan trọng, nếu không có cơ chế giám sát chặt chẽ, dễ dẫn đến việc trường “làm đẹp” số liệu để sớm đạt chuẩn.
Ông Lê Văn Hòa - Giám đốc Trung tâm GDTX - Tin học, Ngoại ngữ tỉnh Quảng Trị, bày tỏ sự đồng tình với việc dự thảo Thông tư xác định tự đánh giá là quá trình cơ sở giáo dục tự xem xét và vận hành hệ thống bảo đảm chất lượng bên trong, đồng thời là căn cứ quan trọng để xây dựng kế hoạch cải tiến chất lượng.
Theo ông, sự thay đổi này sẽ tác động sâu sắc đến công tác quản trị nhà trường, trước hết là chuyển dịch từ trạng thái “đối phó” sang “tự thân”. Thay vì trước đây các trường chỉ tập trung cho khâu chuẩn bị hồ sơ tự đánh giá khi sắp đến kỳ đánh giá ngoài, thì áp dụng Thông tư mới, nhà trường phải vận hành hệ thống bảo đảm chất lượng thường xuyên, liên tục theo chu trình PDCA (lập kế hoạch - thực hiện - kiểm tra - cải tiến). Qua đó, đưa hoạt động bảo đảm chất lượng trở thành công việc thực chất và có hệ thống.
Bên cạnh đó, quy định mới góp phần nâng cao tính minh bạch về chất lượng giáo dục, đề cao trách nhiệm giải trình của cơ sở giáo dục đối với người học, xã hội và cơ quan quản lý thông qua công khai kết quả tự đánh giá. Điều này đặt ra yêu cầu người đứng đầu đơn vị phải chịu trách nhiệm trực tiếp về tính trung thực, chính xác của dữ liệu.
Đồng thời, công tác bảo đảm chất lượng được thực hiện khoa học và chặt chẽ hơn khi quản trị dựa trên dữ liệu. Việc thẩm định sẽ dựa trên tổng hợp, đối chiếu giữa kết quả tự đánh giá và các minh chứng, dữ liệu quản lý thực tế. Điều này thúc đẩy cơ sở giáo dục tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin, chuyển đổi số nhằm chuyên nghiệp hóa việc lưu trữ, phân tích minh chứng, đưa ra các quyết định quản trị chính xác.

Ảnh minh họa INT.
Hoàn thiện cơ chế tự đánh giá, hỗ trợ
Để dự thảo Thông tư khi ban hành khả thi cao, hỗ trợ cơ sở giáo dục hiệu quả, ông Phan Trọng Hải cho rằng, Bộ GD&ĐT nên xây dựng bộ công cụ tự đánh giá chuẩn hóa, cung cấp phần mềm hoặc nền tảng số dùng chung để nhà trường nhập và quản lý dữ liệu minh chứng. Giải pháp này không chỉ giúp giảm tải hồ sơ mà còn tạo điều kiện để cơ quan quản lý theo dõi, giám sát sự tiến bộ của từng trường theo thời gian thực.
Bên cạnh đó, cần có hướng dẫn cụ thể, linh hoạt trong việc vận dụng các chỉ số như diện tích đất trên học sinh hay sĩ số lớp, đặc biệt với các trường tại đô thị đặc biệt hoặc vùng có điều kiện kinh tế - xã hội khó khăn; tránh tình trạng những đơn vị có chất lượng dạy học tốt nhưng “vướng” tiêu chí cơ sở vật chất.
Ngoài ra, tổ chức các đợt tập huấn cần được đổi mới theo hướng thực chất, tập trung vào nâng cao kỹ năng quản trị chất lượng và kỹ thuật tự đánh giá cho đội ngũ cán bộ quản lý, giáo viên cốt cán, thay vì chỉ dừng ở hướng dẫn hoàn thiện hồ sơ.
Từ thực tiễn triển khai, bà Trần Thị Bích Hạnh - Hiệu trưởng Trường Tiểu học thị trấn Hạ Hòa (Phú Thọ) đề xuất, để việc công nhận trường chuẩn quốc gia đạt hiệu quả, cần thiết phải có cơ chế kiểm chứng độc lập. Theo đó, dù coi trọng tự đánh giá, vẫn cần duy trì hoạt động đánh giá ngoài định kỳ nhằm bảo đảm tính khách quan.
Đồng thời, các tiêu chí cần được phân hóa phù hợp với điều kiện vùng miền, có thể xây dựng mức độ đạt chuẩn linh hoạt đối với những địa phương khó khăn để tránh tạo áp lực không khả thi. Tăng cường hỗ trợ kỹ thuật thông qua việc cung cấp tài liệu hướng dẫn, tổ chức tập huấn về quy trình và phương pháp tự đánh giá cho đội ngũ cán bộ quản lý, giáo viên.
Góp ý dự thảo, bà Hạnh đề nghị làm rõ hơn quy trình, tiêu chí tự đánh giá theo hướng cụ thể, dễ hiểu, tránh cách diễn giải chung chung gây khó khăn khi triển khai. Đồng thời, cần đơn giản hóa hồ sơ, minh chứng bằng việc đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin, hướng tới quản lý dữ liệu số nhằm giảm tải giấy tờ.
Quy định lộ trình thực hiện cũng cần phù hợp, có thời gian chuyển tiếp để các nhà trường, đặc biệt những đơn vị chưa đạt chuẩn, có điều kiện thích ứng. Công tác đánh giá nên gắn với cơ chế hỗ trợ phát triển, không chỉ dừng ở việc “công nhận hay không công nhận” mà cần có sự tư vấn, đồng hành giúp các trường cải tiến sau đánh giá.
“Đổi mới theo hướng đề cao tự đánh giá là bước tiến phù hợp với xu thế quản trị giáo dục hiện đại, góp phần nâng cao chất lượng thực chất. Tuy nhiên, để chính sách đi vào cuộc sống một cách hiệu quả, cần có hướng dẫn cụ thể, cơ chế giám sát chặt chẽ và chính sách hỗ trợ đồng bộ, giúp các cơ sở giáo dục, đặc biệt ở cấp tiểu học, triển khai khả thi, bền vững”, bà Trần Thị Bích Hạnh nhận định.


