Chi tiết tin tức
A- A A+ | Trong Tăng tương phản Giảm tương phản

407.000 tỷ đồng tín dụng DNNVV: Làm sao để vốn thực sự đến doanh nghiệp?

Với 19 ngân hàng công bố các chương trình tín dụng ưu đãi dành cho doanh nghiệp nhỏ và vừa (DNNVV), tổng quy mô đã lên tới hơn 407.000 tỷ đồng, cao gần gấp đôi mức đăng ký ban đầu. Cùng với dư nợ DNNVV tăng 12,4% từ đầu năm, nguồn cung tín dụng cho khu vực này đang được mở rộng. Tuy nhiên, để dòng vốn thực sự đến được doanh nghiệp, bài toán không chỉ nằm ở quy mô nguồn vốn mà còn ở khả năng hấp thụ, chất lượng thông tin, phương thức thẩm định và sự kết nối dữ liệu giữa các bên.

Với 19 ngân hàng công bố các chương trình tín dụng ưu đãi dành cho doanh nghiệp nhỏ và vừa (DNNVV), tổng quy mô đã lên tới hơn 407.000 tỷ đồng, cao gần gấp đôi mức đăng ký ban đầu. Cùng với dư nợ DNNVV tăng 12,4% từ đầu năm, nguồn cung tín dụng cho khu vực này đang được mở rộng. Tuy nhiên, để dòng vốn thực sự đến được doanh nghiệp, bài toán không chỉ nằm ở quy mô nguồn vốn mà còn ở khả năng hấp thụ, chất lượng thông tin, phương thức thẩm định và sự kết nối dữ liệu giữa các bên.

von-smes.jpg

Nguồn vốn đã mở rộng, điểm nghẽn nằm ở đâu?

DNNVV hiện chiếm khoảng 98% số doanh nghiệp đang hoạt động, có vai trò quan trọng trong tạo việc làm, thúc đẩy sản xuất, kinh doanh và phát triển kinh tế - xã hội. Trong những năm gần đây, việc tăng khả năng tiếp cận vốn tín dụng cho khu vực này tiếp tục được đặt ra như một trong những giải pháp hỗ trợ khu vực doanh nghiệp.

Theo Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNN), đến ngày 28/8/2026, dư nợ tín dụng đối với nền kinh tế đạt gần 20,5 triệu tỷ đồng, tăng 10,24% so với cuối năm 2025. Trong khi đó, tín dụng đối với DNNVV tăng khoảng 12,4%, đạt trên 4,1 triệu tỷ đồng, chiếm khoảng 20% tổng dư nợ của nền kinh tế. Có trên 100 tổ chức tín dụng phát sinh dư nợ đối với khu vực này; doanh số giải ngân lũy kế từ đầu năm đến cuối tháng 8 đạt trên 3,8 triệu tỷ đồng.

Cùng với dư nợ tăng, các ngân hàng đang mở rộng mạnh các chương trình tín dụng ưu đãi. Sau hơn một tháng triển khai theo định hướng của NHNN, số ngân hàng tham gia các chương trình tín dụng ưu đãi dành cho DNNVV đã tăng từ 4 lên 19 ngân hàng, với tổng quy mô các chương trình, sản phẩm tín dụng trên 407.000 tỷ đồng, so với 220.000 tỷ đồng đăng ký ban đầu. Các khoản vay được áp dụng mức lãi suất thấp hơn tối thiểu 1%/năm so với lãi suất cho vay bình quân cùng kỳ hạn; một số chương trình thấp hơn 1-2%/năm.

Các ngân hàng cũng đang đưa ra những chương trình khá cụ thể. BIDV dành 25.000 tỷ đồng cho chương trình “SME Fast Track 2026”, hướng tới hộ kinh doanh chuyển đổi lên doanh nghiệp, doanh nghiệp xuất nhập khẩu và doanh nghiệp tham gia chuỗi cung ứng. Vietcombank triển khai các chương trình giảm lãi suất cho DNNVV, với mức giảm từ 0,5-2%/năm trong 8 tháng đầu năm; tín dụng DNNVV tại ngân hàng tăng 13,5%, cao hơn mức tăng tín dụng chung khoảng 7,8%. Agribank triển khai chương trình “Hưng thịnh cùng doanh nghiệp SMEs” quy mô 100.000 tỷ đồng.

Như vậy, nguồn vốn đã được mở rộng, lãi suất được thiết kế ưu đãi hơn và quy trình tín dụng cũng đang được cải tiến. Ngân hàng đang dành nguồn lực rất lớn cho các DNNVV. Vấn đề đặt ra là làm thế nào để nguồn vốn đó chuyển hóa thành các khoản vay thực tế, đến đúng doanh nghiệp có nhu cầu và có khả năng sử dụng vốn hiệu quả.

Thực tế tại các ngân hàng cho thấy, khả năng tiếp cận vốn của DNNVV vẫn chịu tác động đáng kể bởi chất lượng thông tin và năng lực quản trị. Nhiều doanh nghiệp chưa xây dựng được hệ thống quản trị tài chính đầy đủ; báo cáo tài chính chưa được kiểm toán độc lập hoặc thông tin về dòng tiền chưa phản ánh đầy đủ, chính xác. Đây là những yếu tố khiến ngân hàng khó đánh giá năng lực tài chính, khả năng trả nợ cũng như hiệu quả của phương án kinh doanh.

Tài sản bảo đảm cũng là một điểm nghẽn, nhất là với những doanh nghiệp có hoạt động sản xuất, kinh doanh nhưng quy mô tài sản chưa lớn. Nếu chỉ dựa vào tài sản bảo đảm, khả năng tiếp cận tín dụng của nhóm doanh nghiệp này có thể bị hạn chế. Vì vậy, các ngân hàng đang từng bước mở rộng cơ sở đánh giá sang dòng tiền, doanh thu, hợp đồng, đơn hàng và hiệu quả phương án sản xuất, kinh doanh.

Đây cũng là hướng phù hợp với yêu cầu đưa tín dụng đến đúng khu vực sản xuất, kinh doanh nhưng vẫn bảo đảm an toàn tín dụng. Theo NHNN, hệ số rủi ro đối với khoản phải đòi của DNNVV được quy định ở mức 85-90%, thấp hơn mức từ 100% trở lên đối với doanh nghiệp khác, qua đó tạo điều kiện cho các tổ chức tín dụng mở rộng tín dụng đối với khu vực này.

Từ “có vốn” đến “vốn đến được doanh nghiệp”

Một trong những thay đổi đáng chú ý trong cách tiếp cận tín dụng DNNVV là việc ngân hàng không chỉ tăng quy mô gói vay mà còn thay đổi phương thức cấp tín dụng.

BIDV đang hướng tới số hóa toàn trình quy trình tín dụng, từ định danh điện tử, chữ ký số, hợp đồng điện tử đến giao dịch bảo đảm trên môi trường số. Tại MB, khoảng 85% số lượng doanh nghiệp tiếp cận vốn trong năm 2026 đã thực hiện hồ sơ trên kênh số; với một số hồ sơ DNNVV, thời gian từ đề xuất đến giải ngân chỉ khoảng 3 ngày. MB cũng triển khai mô hình tín dụng theo chuỗi, kết hợp quản lý dòng tiền từ doanh nghiệp đầu mối đến các doanh nghiệp vừa và nhỏ trong chuỗi, qua đó tạo thêm cơ sở cấp tín dụng mà không hoàn toàn dựa vào tài sản bảo đảm.

Điều này cho thấy số hóa chỉ là một phần của câu chuyện. Quan trọng hơn là ngân hàng có thể nhìn thấy hoạt động kinh doanh thực tế của doanh nghiệp đến đâu.

Hiện nay, dữ liệu thuế, hóa đơn điện tử, hải quan, bảo hiểm xã hội, thanh toán và các thông tin liên quan chưa được kết nối, chia sẻ đồng bộ. Theo đại diện Vietcombank và BIDV, tình trạng này khiến quá trình thẩm định mất thêm thời gian, đồng thời hạn chế khả năng đánh giá đầy đủ năng lực tài chính và dòng tiền của doanh nghiệp.

Khi dữ liệu về doanh thu, hoạt động kinh doanh, nghĩa vụ thuế và dòng tiền được kết nối tốt hơn, ngân hàng sẽ có thêm cơ sở để đánh giá khả năng trả nợ, từ đó mở rộng các phương thức cho vay dựa trên dòng tiền thay vì phụ thuộc quá lớn vào tài sản bảo đảm.

Đây cũng là vấn đề đã được đặt ra từ thực tiễn kết nối ngân hàng - doanh nghiệp tại Hà Nội. Tại Hội nghị “Giải pháp khơi thông nguồn lực tài chính - ngân hàng phục vụ tăng trưởng kinh tế Thủ đô giai đoạn 2026-2030”, các đại biểu nhấn mạnh yêu cầu tăng cường chia sẻ dữ liệu pháp lý, thuế, bảo hiểm xã hội, đăng ký kinh doanh để hỗ trợ cho vay dựa trên dòng tiền. Các tổ chức tín dụng được định hướng tinh gọn quy trình, phát triển sản phẩm phù hợp với DNNVV, hộ kinh doanh và tăng cường ứng dụng công nghệ, dữ liệu trong thẩm định.

Ở chiều ngược lại, doanh nghiệp cũng cần chủ động nâng cao chất lượng “hồ sơ tài chính” của mình. Năng lực quản trị, vốn chủ sở hữu, phương án sản xuất kinh doanh, quản trị dòng tiền và khả năng trả nợ là những yếu tố có ảnh hưởng trực tiếp đến khả năng tiếp cận tín dụng. Việc chuẩn hóa báo cáo, minh bạch dòng tiền và tăng cường giao dịch doanh thu qua hệ thống ngân hàng sẽ tạo thêm cơ sở để tổ chức tín dụng đánh giá doanh nghiệp.

Từ góc độ này, khả năng tiếp cận vốn không chỉ là câu chuyện “ngân hàng có cho vay hay không”, mà là quá trình 2 chiều: ngân hàng đổi mới cách đánh giá và thiết kế sản phẩm, trong khi doanh nghiệp nâng cao chất lượng thông tin và năng lực hấp thụ vốn.

Một yếu tố khác cũng cần được tính đến là chi phí nguồn vốn của hệ thống ngân hàng. Số liệu từ NHNN cho thấy, đến ngày 3/9, tín dụng toàn hệ thống tăng 9,98% so với đầu năm, trong khi huy động vốn tăng 8,33%, chênh lệch 1,65 điểm phần trăm. Điều này cho thấy dù áp lực nguồn vốn đã có dấu hiệu hạ nhiệt, cân đối giữa huy động và tín dụng vẫn cần được theo dõi, nhất là khi nhu cầu tín dụng thường tăng vào cuối năm.

Trong bối cảnh đó, các chương trình tín dụng ưu đãi cho DNNVV vừa tạo thêm cơ hội tiếp cận vốn cho doanh nghiệp, vừa đặt ra yêu cầu đối với ngân hàng trong việc cân đối nguồn vốn, kiểm soát rủi ro và thiết kế sản phẩm phù hợp với từng nhóm khách hàng.

Để dòng vốn thực sự đi vào sản xuất, kinh doanh, việc hoàn thiện cơ chế kết nối dữ liệu cũng cần đi cùng với nâng cao hiệu quả các công cụ chia sẻ rủi ro. Vietcombank kiến nghị hoàn thiện cơ chế kết nối, chia sẻ dữ liệu doanh nghiệp, thuế, hóa đơn điện tử và các dữ liệu liên quan; đồng thời phát huy vai trò của CIC theo hướng trở thành đầu mối tổng hợp, kết nối và cung cấp thông tin phục vụ đánh giá năng lực tài chính doanh nghiệp. Ngân hàng cũng kiến nghị nâng cao hiệu quả hoạt động của Quỹ bảo lãnh tín dụng, đơn giản hóa thủ tục và hoàn thiện cơ chế phối hợp, chia sẻ rủi ro.

Thực tế tại Hà Nội cũng cho thấy việc kết nối thông tin giữa cơ quan quản lý, doanh nghiệp và ngân hàng có thể trở thành một mắt xích quan trọng trong quá trình đưa vốn vào nền kinh tế. Thành phố đang đặt yêu cầu rà soát, phân loại doanh nghiệp, dự án theo nhu cầu vốn và khả năng triển khai; đồng thời chuẩn hóa thông tin về tiến độ, pháp lý, tổng mức đầu tư, cơ cấu nguồn vốn, nhu cầu vốn theo từng giai đoạn và khả năng hoàn trả.

Với DNNVV, cách tiếp cận này càng có ý nghĩa khi quy mô doanh nghiệp nhỏ, nguồn lực quản trị và tài chính còn hạn chế. Nếu thông tin được chuẩn hóa, dữ liệu được kết nối và phương thức thẩm định chuyển dần sang đánh giá dòng tiền, doanh thu, hợp đồng và đơn hàng, khoảng cách giữa “gói tín dụng được công bố” và “khoản vay doanh nghiệp thực sự nhận được” có thể được thu hẹp.

Hơn 407.000 tỷ đồng tín dụng ưu đãi vì vậy mới là một phần của bài toán. Để nguồn vốn thực sự đến doanh nghiệp, cần đồng thời xử lý 3 mắt xích: ngân hàng tiếp tục cải tiến sản phẩm, quy trình và phương thức thẩm định; doanh nghiệp nâng cao năng lực quản trị, minh bạch tài chính và khả năng hấp thụ vốn; cơ quan quản lý hoàn thiện hạ tầng dữ liệu, cơ chế bảo lãnh và chia sẻ rủi ro.

Khi những mắt xích này được tháo gỡ đồng bộ, quy mô vốn cam kết mới có thể chuyển hóa thành dòng vốn thực tế cho sản xuất, kinh doanh, qua đó nâng cao hiệu quả của chính sách hỗ trợ DNNVV và tạo thêm dư địa cho khu vực doanh nghiệp đóng góp vào tăng trưởng kinh tế.